Sâm bố chính

Liên hệ

Mã: GKSBC Danh mục: Từ khóa:

Mô tả

Sâm Bố Chính là dược liệu được dùng trong hỗ trợ chữa cơ thể suy nhược, kém ăn, kém ngủ, đau lưng, đau mình, các chứng bò sốt nóng, trong người khô, táo bón, khát nước, gầy còm. Có khi được dùng làm thuốc thông tiêu tiện, điều kinh, chữa bệnh phổi và bạch đới.

Mô tả dược liệu:

Tên khác: Thổ hào sâm, nhân sâm Phú Yên
Tên khoa học: Abelmoschus sagittifolius Kurz var.septentrionalis Gagnep
Thuộc họ: Bông (Malvaccac)

Cây thảo, sống lâu năm, cao 30 – 50cm hay hơn. Rể hình trụ mập, màu trắng nhạt hoặc hơi vàng. Cành hình trụ, màu đỏ nhạt, mọc lan tỏa, có lông dày cứng. Lá mọc so le, đa dạng, có lông, mép khía răng: lá phía gốc hình trái xoan, không xẻ thùy. gốc hình tim hay hình mũi tên, đầu tù: lá giữa và lá ở ngọn xẻ 5 thùy hẹp hoặc đôi khi 3 thùy tạo thành hình mũi tên, hai mặt có lông đơn hay lông hình sao, gân lá hình chân vịt, cuống lá dài khoảng 2,5 cm; lá kèm hình chỉ.

Hoa màu đỏ hay hồng mọc riêng lẻ ở kẽ lá trên một cuống dài 5 – 8cm, phủ đầy lông, đường kính khoảng 8cm; tiểu đài có 7 – 10 răng hẹp dài, có lông tua tủa, đài có 5 răng nhỏ bị khía rách và rụng sớm, tràng 5 cánh hình nệm.

Quả hình trứng nhọn, có khía dọc, phủ đầy lông cứng, khi chín nứt thành 5 mảnh: hạt hình thận, màu nâu

Mùa hoa quả : tháng 5 – 9

Phân bố, sinh thái

Loài Hibiscus sagittifolius Kurz được giả thiết có nguồn gốc ở phía nam Trung Quốc, sau phát triển dần xuống phía nam của châu Á, trong đó có Việt Nam. 

Sâm bố chính thấy ở một vài nơi thuộc tỉnh Thanh Hóa, là cây đặc biệt quý hiếm, cây vốn mọc tự nhiên ở một số điểm thuộc vùng núi thấp phía bắc (Quảng Ninh, Hải Phòng ). Sâm bố chính đã được trồng từ lâu ở hầu hết Các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Bộ, Một số địa phương ở tỉnh Hưng Yên. Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc cũng  trồng nhiều cây thuốc này để cung cấp cho thị trường.

Sâm Bố Chính là cây ưa sáng và ưa ẩm, thích nghi được với nhiều loại đất, như đất mùn dưới chân núi, đất pha cát, đất phù sa ven sông, sinh trưởng phát triển mạnh trong mùa mưa ẩm. Sau khi có hoa quả,toàn bộ phận trên mặt đất bị tàn lụi vào mùa đông, quả sâm Bố Chính khi già tự mở, hạt nảy mầm tự nhiên vào khoảng tháng 3 – 4 năm sau.

Thu hái – Sơ chế:

Rễ sâm bố chính thường được thu hoạch vào mùa đông. Tùy theo nhu cầu dùng tươi hay khô mà có cách sơ chế khác nhau:

Sâm tươi: Sau khi đào về, rễ được rửa sạch đất cát, cắt bỏ hết rể con xung quanh, ngâm với nước vo gạo rồi để qua một đêm. Vớt ra cho ráo nước trước khi đem ngâm với rượu trên 40 độ hoặc sắc uống.

Sâm khô: Sau bước ngâm nước vo gạo thì thái mỏng hoặc để nguyên cả củ đồ chín. Phơi hoặc sấy khô.

Thành phần hóa học:

Rễ sâm bố chính chứa chất nhầy 35 – 40%, tinh bột ( Đỗ Tất Lợi, 1999).

Theo Trần Công Luận và cs, 2001, rễ cây sâm bố chính trồng ở Bạc Liêu chứa phytosterol, coumarin. acid béo, acid hữu cơ, đường khử và hợp chất uronic. Hàm lượng lipid là 3.96%. 

Lapid gốm acid myristic, acid palmitic, acid seanc, acid oleic, acid linoleic, acid linolenic, Hàm lượng protein toàn phần là 0,23g%, hàm lượng protid: 1,26g%. Các acid amin gồm 11 chất, trong đó có histidin, argussin, threonin, alanin. Prolin, tyrosin, valin, phenylalanin và leucin. Hàm lượng tinh bột là 15,54% và chất nhầy 18,92 Chất nhầy là D-glucose và L-Rhamnose. Ngoài ra, còn có 13 nguyên tố : Na, Ca, Mg, Al, S, Fe, V, Mn. Ti, No, Cu, Z và P.

Theo quy định của Dược điển Việt Nam II, rễ sâm bố chính phải chứa 30 – 40% chất nhầy (tính theo dược liệu khô kiệt).

Bộ phận dùng

Rễ sâm bố chính là bộ phận được dùng để bào chế thuốc 

Bảo quản

Rễ sau khi phơi khô, bảo quản nơi khô ráo, tránh ẩm mốc

Vị thuốc Sâm bố chính: 

Tính vị – Quy kinh:

  • Rễ sâm bố chính có vị ngọt, hơi nhớt, tính bình.
  • Vào 2 kinh tỳ, phế

Tác dụng:

Theo y học cổ truyền, sâm bố chính có tác dụng bổ khí, ích huyết, chỉ khái, sinh tân dịch; sao với gạo thì tính ấm, bổ tỳ vị, giúp tiêu hóa, thêm sức mạnh.

Tác dụng dược lý

Bằng đường uống và tiêm phúc mạc, cao cồn sâm Bố Chính có tác dụng gây giảm hoạt động, đối kháng với tác dụng tăng hoạt động của amphetamin, kéo dài thời gian ngủ gây bởi thuốc ngủ barbituric, và chống co giật gây bởi Pentetrazol. Điều đó chứng tỏ sâm Bố Chính có tác dụng ức cho hệ thần kinh trung ương, an thần.

Chủ trị:

Rễ sâm Bố Chính chữa cơ thể suy nhược, kém ăn, kém ngủ, đau lưng, đau mình, các chứng bò sốt nóng, trong người khô, táo bón, khát nước, gầy còm. Có khi được dùng làm thuốc thông tiêu tiện, điều kinh, chữa bệnh phổi và bạch đới.

Liều dùng, cách dùng

Ngày 16 – 20g dưới dạng thuốc sắc hoặc bột.

Bài thuốc từ Sâm bố chính

Chữa sốt nóng lâu, khát nước, ra mồ hôi:

Sâm Bố Chính 20g. thục địa 30g, nhục quế 3g. Sắc uống ngày một thang 

Chữa ra mồ hôi nhiều, người còn ấm, chân tay quyết lạnh:

Sâm Bố chính 20g, hoàng kỳ 80g (tẩm nước phòng phong sao), đương quy 20g (tẩm rượu sao), phục linh 12g (tẩm sữa), chích thảo 8g, lộc nhung 8g (tẩm rượu nướng), long cốt 8g, mẫu lệ 8g (đều nung nghiền nhỏ) Sắc uống trong ngày. 

Chữa gầy yếu hay béo bệu, kém ăn, mà một khí đoản, đầy bụng đi lỏng hoặc hư hỏa phát nóng, phiền khát: Sâm bố chính 40g, bạch truật 20g (sao mát). hoàng kỳ 8g (sao mật), liên nhục 6g, mạch môn 4g, ngũ vị 4g (sao mật), chích thảo 4g, phu tử chế 1,2g, táo ta vài quả, gừng nướng vài lát. Sắc uống trong ngày 

Chữa tiêu hóa, bài tiết bị ngừng trệ: Sâm Bố Chính 20g, bạch truật 40g (tẩm sữa sao), trầm hương 4g. Sắc riêng sâm bố Chính và bạch truật rồi mài trầm hương vào, uống trong ngày. 

Chữa trẻ em gầy còm xanh xao, hay đi lỏng, lỵ kéo dài: Sâm Bố Chính sao chín 25%, hoài sơn Sao chín 30%, ý dĩ sao chín 20%, hạt sen sao chín 15%, bạch chỉ sao chín 10%. Các vị đem tán nhỏ rây bột mịn. cho uống sống với nước đường hoặc trộn với đường đun chảy. Trẻ em 2 tuổi trở lên, ngày 4 – 10g.

Chữa rối loạn kinh nguyệt: Sâm bố chính 16g, cỏ nhọ nồi sao vàng, thục địa, mỗi vị 20g; ngải cứu sao, ích mẫu, mỗi vị 16g, củ gai (cây gai làm bánh) 12g, củ gấu (tứ chê) 10g sắc uống trong ngày.

Chữa suy nhược cơ thể ở người có bệnh về hô hấp: Sâm Bố Chính 12g, liên nhục 20g, táo nhân, tua sen, sa sâm, mỗi vị 12g, lá vông, hương phụ, mỗi vị 10g, kỷ tử 8g. Sắc uống ngày một thang. 

Chữa suy nhược cơ thể ở người có bệnh về tiêu hóa, sau khi ốm nặng hoặc lao động vất vả: Sâm Bộ Chính 180g, hoài sơn, hạt sen, mỗi vị 80g: bạch truật 40g, binh lang 8g Tán bột mịn, trong mỗi ngày 20g 

Chữa suy nhược gầy rộc, hảo khát, táo bón, đái són: Sâm bố chính nấu thành cao, hòa với cao ban long uống.

Chữa giai đoạn hồi phục sau áp xe phổi:  Sâm bố chính, hoài sơn, mỗi vị 16g; sinh địa, ý dĩ, bách hợp, kim ngân hoa, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang

Chữa thiếu máu: Sâm bố chính, hà thủ ô, hạt sen, mỗi vị 10g, cam thảo 40g: thảo qua 12g, đại hồi 8g. Tán nhỏ làm viên, ngày uống 20g, chia 2 lần.

Chữa tim đập nhanh hồi hộp, ngủ ít: Sâm Bố Chính 20g, hạt sen, củ mài, hà thủ ô, rau má, quả dâu chín, long nhãn, mỗi vị 12g, táo nhân, bá từ nhân, mỗi vị 8g Sắc uống ngày một thang

Chữa đái ra đường chấp: Sâm Bố Chính, ý dĩ, tỳ giải, huyền sâm, trúc diệp. liên nhục, củ mài, rễ cỏ tranh, cam thảo nam, mẫu lệ. mỗi vị 12g, hoạt thạch 6g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa bệnh trầm cảm: Sâm Bố Chính 16g, hoài sơn, hà thủ ô, long nhãn, bá tử nhân, mỗi vị 12g, toan táo nhân, liên tu, bán hạ chỉ, xương bồ, cam thảo dây, mỗi vị 8g, nhục quế 4g. Sắc uống ngày một thang. 

Chữa động kinh: Sâm Bố Chính 20g, ý dĩ 40g, nam tinh sao, trần bì, toàn yết, mỗi vị 20g, quế 4g. Tán thành bột mịn, ngày dùng 40g. Sau đó lấy chu Sa 1g cho vào tim lợn, hấp cách thủy cho người bệnh ăn, mỗi tuần ăn 3 lần, trong 3 tuần liền.

16 Chữa giai đoạn phục hồi sau khi bị bỏng: Sâm bố chính, hoài sơn, ý dĩ, mỗi vị 10g, bạch truật, sa sâm, thục địa, hà thủ ô, kê huyết đằng, mỗi vị 12g, kỷ tử 10g. trần bì 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Chữa Suy nhược thần kinh:

a) Sâm Bố Chính 20g, hoàng kỳ 12g, đương quy, bạch truật, táo nhân, long nhãn, mộc hương, bạch thược, cúc hoa, mỗi vị 8g, bạch linh, viễn chí, mỗi vị 6g Sắc uống ngày một thang.

b) Sâm Bố Chính, sinh địa, mỗi vị 20g, hoàng cầm, sài hồ, đại táo, mỗi vị 12g, đương quy, bạch thược mỗi vị 8g; xuyên khung 6g, cam thảo 4g. Sắc tổng ngày một thang.

Thuốc bổ dùng cho bệnh nhân hen suyễn khi đỡ lên cơn:

a) Sâm Bố Chính 200g, đậu đen 500g, hà thủ ô, ngải cứu, củ đinh lăng, mỗi vị 20g, mật ong vừa đủ. Tán nhỏ, làm hoàn. Ngày uống 24g, chia hai lần.

b) Sâm Bố Chính 200g, rễ dâu tằm 160g, can khương 120g, vỏ quý 12g, tắc kè 4 con (bằm nhỏ Sao vàng), mật ong vừa đủ Các vị tán nhỏ, luyện mật làm hoàn 12g Mỗi lần uống 1 hoàn, ngày 2 lần.

Thuốc bổ thận tráng dương, chữa thận suy yếu, kém đương sự: Sâm bố chính 100g, đậu đen 1500g: hoài sơn, liên nhục, cẩu tích, sừng nai, tục đọan, ba kích, liên tu, mỗi vị 100g, hoàng tinh 500g, hạt tơ hồng 200g. Ba kích tẩm muối sao vàng, đậu đen sao tồn tính, sừng nai đắp đất sét nung tồn tính, các vị khác tán nhỏ, hợp lại làm viên. Mỗi lần uống 8 – 12g, ngày 2 lần.

Thuốc tăng lực chữa kém ăn, mất ngủ, mệt mỏi, nặng ngực, thiếu máu xanh xao:

Sâm bố Chính 120g, hoàng linh chế 80g, tầm gửi cây dâu, quả đâu, thỏ ty tử sao, hà thủ ô đỏ (chế), đỗ trọng, mỗi vị 40g, huyết giác, ba kích, cao hổ cốt, mỗi vị 20g. Các vị sơ chế, ngâm 2 lít rượu trong hai ngày đêm rồi đem chưng cách thủy hạ thổ một tuần. Mỗi lần uống 15 – 40ml, ngày 2 lần theo bữa ăn, Kiêng ăn đồ tanh sống, kích thích.

Chữa thần khí suy kém, nặng đầu mỏi lưng, nóng nhiều, mỏi mệt, yếu sức: Sâm bố chính 6g, hà thủ ô 12g, củ mài, cốt toái bổ, gạc nai nướng, tầm gửi cây dâu, mỗi vị 6g, mẫu đơn, nhuỵ sen, mỗi vị 4g. sắc uống ngày một thang.

Hoàn đại bổ: Sâm bố chính, củ đinh lăng, mỗi vị 100g, hà thủ ô đỏ 60g, trần bì 20g, rau thai nhi 1 bộ, mật ong vừa đủ ( Rau thai lấy ở phụ nữ đẻ con So, không có bệnh, cắt bỏ màng gân, lấy rau tươi đỏ, cho ra từng miếng để trên đĩa gốm sứ sấy cách thủy đến khô). Rễ đinh lăng cạo bỏ vỏ ngoài, thái mỏng phơi khô sao qua. Các vị tán nhỏ luyện mật làm hoàn 12g. Ngày uống 1 hoàn trước khi đi ngủ, uống 15 ngày là một liệu trình.

Lưu ý khi sử dụng sâm bố chính

Thể trạng hư hàn phải tắm nước gừng, sao kỹ.

Không dùng sâm bố chính chung với lê lô

Kiêng dùng các chất kích thích trong quá trình dùng sâm bố chính.

Cây sâm bố chính có đặc điểm gần giống với cây vông vang nên dễ bị nhầm lẫn. So với sâm bố chính thì cây vông vang lớn hơn, phần lông cũng mọc dài hơn. Ngoài ra, hoa vông vang có màu vàng, trong khi đó hoa bố chính lại màu hồng.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Chỉ những khách hàng đã đăng nhập và mua sản phẩm này mới có thể đưa ra đánh giá.