Lạc tiên

Liên hệ

Là cây dây leo bằng tua cuốn, rỗng. Lá mọc so le, dài khoảng 7cm, rộng tới 10cm, chia làm 3 thuỳ nhọn. Lá kèm rách ở mép, tua cuốn mọc từ nách lá. Hoa trắng, có tràng phụ hình sợi, màu tím. Quả tròn, bao bởi lá bắc tồn tại như là một cái bao ở ngoài. Quả chín vàng, ăn được. Toàn cây có lông.

Mô tả

Cây lạc tiên

Tên gọi khác: Cây lạc, cây nhãn lồng (Nam Bộ), lồng đèn, đồng tiền, long châu quả, mác mát (Đà Lạt)
Tên khoa học: Passiflora foetida L.
Thuộc họ: Lạc tiên Passifloraceae. 

Mô tả

Cây leo bằng tua cuốn. Thân mềm, tròn và rỗng, có lông thưa, Lá mọc so le, chia 3 thùy, thùy giữa lớn hơn hai thùy bên. Mép uốn lượn có lông mi nhỏ, gốc hình tim, đầu nhọn, gân lá hình chân vịt, hai mắt có lông mịn; tua cuốn mọc ở kẽ lá, đầu cuộn lại như lò xo.

Hoa to, đều, lưỡng tính, mọc riêng lẻ ở kẽ lá; tổng bao gồm 3 lá bắc rời nhau chia thành những dải nhỏ như sợi, bao hoa gốm 5 lá dài màu xanh lục, mép viền trắng, mỗi lá đài có một phần phụ hình sừng nhọn ở mặt ngoài, 5 cánh hoa rời nhau, màu trắng pha tím nhạt ở giữa, xếp xen kẽ với các lá đài, một vòng tua gồm rất nhiều phần phụ của cánh hoa hình sợi chỉ, màu tím, ở giữa hoa, có một Cột nhỏ hình trụ (cuống nhị nhụy) mang 5 nhị có bao phấn đính lưng, màu vàng, bộ nhụy có 3 lá noãn, bầu thượng một ô.

Quả mọng, hình trứng, dài khoảng 3cm, bao bọc bởi tổng bao lá bắc tồn tại, vỏ quả mọng khi chín màu vàng, hạt nhiều, có áo hạt thơm, ăn được.

Mùa hoa : tháng 5-7; mùa quả : tháng 8 – 10.

Phân loại:

Ngoài cây lạc tiên nêu trên, còn có một số loài lạc tiên khác cũng được dùng như sau:

  1. Lạc tiên Nam Bộ (Passiflora cochinchinensis Spreng).

Tên khác : Con lang. lồng đèn, xa. Cây leo, cành hơi dẹt, có khía rãnh

Lá thuôn hẹp, gốc và đầu tròn, mép nguyên, mắt trên nhăn, mặt dưới hơi có lông. Cụm họa có ít hoa này trang có vòng tua phần phụ màu tím và vàng. Quả nhỏ, hình trứng nhắn, dài 1,5. 2,c, không có tổng bao lá bắc. Mùa quả vào tháng 5. 

  1. Lạc tiên tây (Passiflora incarnata L.)

Cây leo, dài 3 – 9m. Thân có rãnh dọc, vỏ màu xám nhạt sau chuyển màu đỏ tía, khi non có lông mịn, Lá mọc so le, chia 3 thùy (ít khi 5 thùy) mép có răng rất nhỏ, tua cuốn mọc ở kẽ lá.

Hoa có màu trắng, thơm, mọc đơn độc, có cuống dài, lá bắc 3, xẻ rất sâu, Vòng tua phần phụ của cánh hoa có màu tím tía hoặc hồng. Quả hình trứng, bạc, khi chín màu vàng ăn được.

  1. Lạc tiên trứng (Passiflora edulis Sims) : Còn gọi là dây mát

Phân bố, sinh thái

Trong số 15 loài thuộc chi Passiflora L. 

Ở Việt Nam, Lạc tiên là loài mọc tự nhiên, có vùng phân bố rộng rãi nhất. Cây phân bố ở khắp các tỉnh trung du, vùng núi thấp (dưới 100m) và đôi khi cả vùng đồng bằng. Những tỉnh có nhiều lạc tiên là Bắc Giang, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng. Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ, Hoà Bình, Thanh Hóa, Nghệ An. Hà Tĩnh, Quảng Bình và một số tỉnh ở phía đông Trường Sơn. 

Trên thế giới, lạc Tiên có ở Nam Trung Quốc, Lào, Campuchia và một số nước Đông Nam Á khác.

Lạc tiên là cây ưa ẩm và ưa sáng, thường mọc trùm lên các cây bụi ở ven rừng, đồi, nhất là ở các trảng cây bụi tái sinh sau nương rẫy. Cây sinh trưởng mạnh từ khoảng giữa tháng 3 đến tháng 8, Hoa quả nhiều hàng năm. Mùa đông cây có hiện tượng hơi rụng lá. Tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt. Sau khi chặt, phần còn lại tái sinh cây chồi khỏe.

Nguồn lạc tiên ở Việt Nam nhìn chung khá dồi dào. Lượng khai thác làm thuốc hàng năm không ảnh hưởng nhiều tới dự trữ tự nhiên. Cây bị tàn phá chủ yếu do nạn phá rừng lấy đất canh tác.

Thu hái – Sơ chế:

 Cây lạc tiên được thu hái vào mùa xuân – hè, sau khi thu hoạch đem đi phơi hay sấy khô.

Thành phần hóa học:

Lạc tiên chứa pachypodol, 4’, 7 – O – dimethyl – apigenin, ermanin – 4’ – 7- O – dimethyl – naringenin; 3,5 – dihydroxy – 4,7 . dimethyl oxy flavanon, chrysoerpol, 2″ – xylosylvitexin (Trung được từ hải I, 1993), vitexin.

Hàm lượng flavonoid toàn phần là 0,074%. Ngoài ra, cây còn chứa alcaloid 0,033%, trong đó có harman.

Bộ phận dùng

Toàn thân của cây lạc tiên đều được sử dụng làm thuốc

Bảo quản

Lạc tiên sau khi được phơi hoặc sấy khô, bảo quản nơi khô thoáng, tránh ẩm ướt

Vị thuốc Lạc tiên: 

Tính vị – Quy kinh:

Toàn cây lạc tiên có vị ngọt, hơi đắng, tính mát.

Tác dụng:

Theo y học cổ truyền Lạc tiên có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi thủy. Quả có vị ngọt, chua, tính bình, mùi thơm, có tác dụng nhuận phế, chỉ thống

Tác dụng dược lý

– Alcaloid toàn phần chiết từ cây lạc tiên đã được chứng minh là có tác dụng làm giảm hoạt động được kích thích do dùng cafein và kéo dài thời gian gây ngủ của hexobarbital (Vũ Ngọc Lộ, Hoàng Tích Huyền).

– Bùi Chí Hiếu và cộng sự đã thử tác dụng dược lý của chế phẩm Passerynum gồm lạc tiên, vông nem, lá sen, thảo quyết minh, hạt tơ hồng, lá dâu, hạt keo giàu, sâm đại hành và kết luận như sau : Passerynum dùng với liều 0,2g, có tác dụng làm giảm trạng thái hưng phấn thần kinh được dùng cafein, pha loãng với nồng độ 1: 10, chế phẩm có tác dụng gây ra huyết áp, tăng tần số và biên độ hô hấp, đồng thời làm giảm nhịp tim và sức co bóp cơ tim. Chế phẩm có độc tính thấp, có thể dùng tới liều 75 g/kg mà không gây chết súc vật. Trên lâm sàng, Passerynum làm cho bệnh nhân ngủ dễ dàng, ngon giấc, không làm thay đổi huyết áp.

Theo tài liệu Ấn Độ, quả lạc tiên chín có thể ăn được nhưng lúc còn xanh thì độc vì có chứa glycosid cyanogenetic

Ở các nước châu Âu, người ta dùng cây Passiflora coerulea và P Incarnata P coeralea được coi là có tác dụng an thần, chống co thắt. P Incarnata đã được ghi trong dược điển Pháp cũng là thuốc an thần và chống co thắt. H. Leclerc còn cho rằng Pencarnata có tác dụng hạ huyết áp, giảm co bóp cơ trơn ruột.

Chủ trị:

 Lạc tiên được dùng làm thuốc an thần, chữa mất ngủ, suy nhược thần kinh, Ngọn non của cây thường được thu hái để luộc ăn vào buổi chiều hoặc trước khi đi ngủ vài giờ. 

Dạng thuốc thông thường là cao lỏng có đường được pha chế như sau : Lạc tiên 4g, lá vông 400g, lá gai 100g, rau má 100g. Tất cả nấu với nước, cô đặc dược 100 ml. Đường nấu thành siro, Pha 6 phần cao với 4 phần sirô. Ngày uống 40ml, chia làm 2 lần.

Quả lạc tiên trứng (Pendules Sims) được dùng làm nước giải khát có tác dụng mát và bổ.

Cách làm như sau: quả chín (càng chín càng thơm), 0,5kg, bổ đôi nạo hết ruột, ép và lọc lấy dịch quả. Đường trắng 0,250 kg hòa với một lít nước đun sôi để nguội, bổ dịch quả vào nước đường trộn đều. Uống với nước đá. Nước quả lạc tiên trứng có mùi thơm đặc biệt, vị hơi chua, chứa nhiều vitamin nhất là vitamin B2.

Ở châu Âu, cay P. coerulea được dùng làm thuốc dịu thần kinh rất công hiệu, dưới dạng cồn thuốc tươi với liều 30 đến 50 giọt/ngày, hay dạng cao lỏng với liều 1: 3g/ngày. 

Cây P.incarnata cũng dùng là thuốc an thần chữa mất ngủ, hồi hộp, suy nhược thần kinh, động kinh, dưới dạng cồn thuốc tươi, với liều 30 đến 50 giọt/ngày hay dạng cao lỏng với liều 1. 5g/ngày. 

Liều dùng, cách dùng

Ngày dùng 20 – 40 g, dạng thuốc sắc. Ngoài ra có thể uống cao lỏng, siro, rượu thuốc với lượng tương ứng. Nên uống trước khi đi ngủ.

Bài thuốc từ lạc tiên

Chữa thần kinh suy nhược, mất ngủ, hồi hộp:

Lạc tiên 150g, lá vông 130g, tâm sen 2,2g, lá dâu 10g, đường 90g. Tất cả nấu thành cao lỏng vừa đủ 10ml. Ngày dùng 2 – 4 thìa to, uống trước khi đi ngủ.

Viêm da, ghẻ ngứa: Dây lá Lạc tiên với lượng vừa đủ, nấu nước tắm và rửa.

Bài thuốc an thần, có tác dụng trợ tim, ngủ được êm, dịu thần kinh: Hạt sen 12g, lá Tre 10g.

Cỏ mọc 15g, Lá dâu 10g, Lạc tiên 20g, Vông nem 12g, Cam thảo 6g, Xương bồ 6g, Táo nhân sao 10g.

Ðổ 600ml nước sắc còn 200ml nước, uống ngày 1 thang.

Lưu ý khi sử dụng lạc tiên

Lạc tiên không có độc nhưng phụ nữ mang thai, bà mẹ cho con bú hay những người chuẩn bị phẫu thuật muốn sử dụng tốt nhất nên tham khảo ý kiến của bác sĩ.

Nếu bạn đang sử dụng 1 số loại thuốc Tây như: thuốc trị trầm cảm, thuốc an thần, thuốc chống đông máu… thì cũng cần cân nhắc, hỏi ý kiến của bác sĩ khi sử dụng lạc tiên.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Chỉ những khách hàng đã đăng nhập và mua sản phẩm này mới có thể đưa ra đánh giá.