Lá vông nem

Liên hệ

Mã: GKLVN Danh mục: Từ khóa:

Mô tả

Lá vông nem có vị đắng nhạt, hơi chát, tính bình. Thường dùng chữa tim hay hồi hộp, ít ngủ hoặc mất ngủ, trẻ em cam tích, viêm ruột ỉa chảy, kiết lỵ, viêm da, lở chảy nước, phong thấp, chân tê phù, ung độc.

Mô tả dược liệu:

Tên khác: Lá vông
Tên khoa học: Folium Erythrinae
Tên Tiếng Trung:
Thuộc họ:

Cây to cao tới 10m, vỏ xanh rồi nâu, có nhiều gai ngắn. Lá mọc so le, có 3 lá chét hình tam giác, mép nguyên, lá tận cùng rộng hơn dài, hai lá bên dài hơn rộng, hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm bóng.

Cụm hoa mọc ngang ở kẽ lá và đầu cành thành chùm dày, cứ 1 – 3 hoa ở mỗi mấu, lá bắc nhỏ, sớm rụng, hoa nở trước khi cây ra lá, màu đỏ chói, đài hình ống có 5 tầng nhỏ; tràng dài, cánh cờ rộng, nhị tập hợp thành bó vượt ra khỏi tràng.

Quả đậu, màu đen, thốt lại ở gốc và thắt lại giữa các hạt, hạt 5 – 8, hình thận, màu đỏ hay nâu.

Mùa hoa quả: tháng 3 – 5.

Phân bố, sinh thái

Chi Erythrina L. có khoảng 10 loài trên thế giới, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, tập trung nhiều nhất châu Mỹ khoảng 70 loài. sau đến châu Phi 32 loài, châu Á 18 loài, trong đó Việt Nam có 6 loài và Malaysia 8 loài. Phần lớn các loài là cây mọc tự nhiên, một vài loài được trồng để làm cảnh.

Vông nem có nguồn gốc ở vùng ven biển Đông Phi, phân bố khắp từ châu Phi đến vùng nhiệt đới Nam Á (Ấn Độ, Srilanca), Đông Nam Á (Malaysia, Thái Lan, Philippin, Indonesia, Papua Niu Ghinê, Lào, Campuchia) các đảo ở Thái Bình Dương, Australia (Queensland) và cả ở phía nam Trung Quốc. 

Ở Việt Nam, Vông nem mọc tự nhiên và được trồng rải rác khắp các tỉnh thuộc vùng núi thấp (dưới 1000m), trung du và đồng bằng. Cây thường được trồng làm bờ rào ở nương rẫy, vườn nhà. 

Thành phần hóa học:

Lá vông nem chứa các alcaloid: erythrin (Lân Khải Thọ, 1976), erysothrin. 11 – hydroxycrysothrin, erythralin, crysodin, N – noonentalin, crybidin (ho Kazuo và cs, 1975).

Nguyễn Văn Tựu 1991, chiết xuất 2 alcaloid, dự đoán là erysothrin và hypaphorin.

Theo The Wealth of India vol.3, 1952, lá chứa albuminoid 16,73%, carbohydrat 37,12%, N, K hydroxy 1,81%, acid phosphoric 0,5%.

Tính vị – Quy kinh:

Lá Vông nem có vị đắng nhạt, hơi chát, tính bình

Khổ, bình. Quy vào kinh tâm, tỳ.

Bộ phận dùng

Bộ phận sử dụng làm thuốc là lá

Thu hái – Sơ chế:

Thu hái vào mùa xuân, dùng tươi hay phơi khô

Bảo quản

Sau khi phơi khô, bảo quản ở nơi thoáng mát, tránh ẩm ướt

Tác dụng dược lý Lá vông nem

Ở Việt Nam, Ngô Ứng Long (Trường Sỹ quan quân y- 1960) đã nghiên cứu tác dụng dược lý của lá vông và kết luận là lá vông có tác dụng ức chế thần kinh trung ương, làm yên tĩnh, gây ngủ, hạ nhiệt, hạ huyết áp. Còn có tác dụng co bóp các cơ Thí nghiệm trên chuột nhắt trắng, chuột lang, chuột cống trắng, thỏ, mèo, chó, khỉ đều không thấy hiện tượng ngộ độc. Trên súc vật thí nghiệm, nước sắc lá Vông 10% có tác dụng làm co cứng cơ chân ếch và cơ thắt trực tràng. 

Ở Ấn Độ lá Vông nem được coi là có tác dụng nhuận tràng, lợi tiểu, trị giun sán, lợi sữa và điều kinh. 

Công năng

Theo y văn cổ truyền, lá vông nem có tác dụng sát trùng, tiêu cam tích,  trừ phong thấp. 

Lá vông nem có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, làm an thần, gây ngủ, hạ nhiệt, hạ huyết áp, co bóp các cơ. 

Chủ trị

Thường dùng chữa tim hay hồi hộp, ít ngủ hoặc mất ngủ, trẻ em cam tích, viêm ruột ỉa chảy, kiết lỵ, viêm da, lở chảy nước, phong thấp, chân tê phù, ung độc.

Kết quả nghiên cứu dược lý

Ứng dụng lâm sàng của Lá vông nem

Từ lâu đời, lá vông nem đã được nhân dân Việt Nam dùng làm thuốc an thần, dưới nhiều dạng như sau: Lá vông nem (loại bánh lẻ) rửa sạch luộc hay nấu canh ăn chữa mất ngủ, nhức đầu, chóng mặt. Hoặc dùng Cao lỏng lá vông ngày uống 3-4g, rượu thuốc 1 -2g/ngày, thuốc hãm 2 – 4g/ngày (hãm như pha trà), siro lá vông (lá ngâm rượu rồi pha với siro) ngày uống 20ml có thể cùng phối hợp với lạc tiên. Tất cả đều uống trước khi đi ngủ.

Lá vông phối hợp với lá sen sắc uống chữa chảy máu mũi, đại tiện ra máu, giã nát vắt lấy nước uống và chưng nóng bã đắp rịt vào hậu môn chữa lòi đom. 

Để chữa sa dạ con, lấy lá vông 30g, lá tiểu kế 20g, hạt tơ hồng 20g, giã nhỏ sắc với 400ml nước còn 100ml uống trong ngày, kết hợp lấy 10 hạt thầu dầu tía giã nát với giấm đắp bằng lại. Hoặc lấy lá Vông nấu với lá cỏ xước và cá trê, rồi ăn cả nước là cái (Viện Quân y 108 Hà Nội – 1960) 

Dùng lá vông rửa sạch bằng thuốc tím, giã nhỏ với một ít cơm nguội đắp lên các vết loét đã chữa bằng phương pháp khác không khỏi, thấy vết loét chóng lên thịt non. Nếu đắp lâu ngày ta có thể lên cao quá mức cũ.

Liều dùng, cách dùng Lá vông nem

Ngày dùng 4-6g dạng thuốc sắc

Cách dùng: Ðể làm thuốc an thần, có thể phối hợp với Lạc tiên, lá Dâu, tâm Sen. Ðể chữa bệnh trĩ, dùng lá tươi xào với trứng gà ăn, rồi dùng lá già giã ra, nướng nóng đắp vào hậu môn. Ðể chữa vết thương, dùng lá tươi nấu nước rửa và lá khô tán bột rắc.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Chỉ những khách hàng đã đăng nhập và mua sản phẩm này mới có thể đưa ra đánh giá.