Hoa Đậu biếc

750.000

Mã: GKDB Danh mục: Từ khóa:

Mô tả

Cây đậu biếc

Tên khoa học: Clitoria ternatea,
thuộc họ: Fabaceae.

Đậu biếc là cây thân thảo, dây leo, có chiều dài từ 3 – 10 m. Thân và cành cây mềm, mảnh và có lông, thường leo dọc bờ rào. Khi cây còn non có màu xanh nhưng khi về già chúng chuyển thành màu xanh nâu.

Hoa hình hạt đậu ngũ giác với đài hình ống, bao gồm 5 lá đài hợp nhất khoảng 2/3 chiều dài của chúng. Tràng hoa màu sặc sỡ, gồm 5 cánh hoa, một cánh lớn và tròn, 2 cánh nhăn nheo thường bằng một nửa cánh lớn, 2 cánh trắng nhỏ bảo vệ các cơ quan của hoa. Các tràng hoa thường có màu xanh đậm, cũng có thể xuất hiện màu trắng và màu xanh xen trắng ở giữa. Có 10 sợi nhị, trong đó có 9 sợi hợp nhất, 1 sợi tự do. Đi kèm với mỗi sợi nhị là một bao phấn trắng gồm 4 thùy. Nhụy mang mười noãn.

Phân bố, sinh thái

Đậu biếc là một trong những cây trồng địa phương có dược tính, có nguồn gốc từ châu Á nhiệt đới và sau đó được phân phối rộng rãi ở Nam và Trung Mỹ, Đông và Tây Ấn, Trung Quốc và Ấn Độ. 

Ở nước ta, cây Đậu biếc có nhiều ở Quảng Ninh, Ninh Bình, Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Bình Thuận và khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Thu hái – Sơ chế:

Hoa đậu biếc có thể nở quanh năm, thời gian thu hoạch hoa đậu biếc tốt nhất là vào buổi chiều, vì lúc đó hoa đã nở và ráo, tránh hái buổi sáng bởi lúc này sương ướt đọng trên hoa sẽ gây khó khăn cho quá trình phơi khô.

Thành phần hóa học:

Hoa đậu biếc chứa một este và một chất nhựa glycosid. Nó chứa anthoacyanin, blue proanthocyanidin là một chất chống oxy hóa mạnh. Terahara và cộng sự đã phân lập sáu anthocyanins chính từ hoa đậu biếc. Trong đó Delphinidin glucoside là anthocyanin chính tạo ra màu xanh lam đặc biệt của loại hoa này.

Ngoài ra, hoa đậu biếc có các thành phần inositol (38,7%), pentanal (14,3%); momeinositol (33,6%), cyclohexxan, 1-methyl-4-(1-methylethylideme)-7,1%, acetic acid, cano (6,5%) và hirsutene (5,7%).

Bộ phận dùng

Bộ phận sử dụng là hoa

Bảo quản

Hoa đậu biếc hái xong đem phơi khô để bảo quản trong hộp kín và sử dụng dần dần. Tránh sử dụng đồ đựng có khả năng hút nhiệt lớn, sẽ làm nát hoặc mất màu hoa.

Vị thuốc hoa đậu biếc: 

Tính vị:

Hoa đậu biếc có tính bình

Quy kinh:

Quy vào các kinh can, thận

Tác dụng:

Tác dụng dược lý: 

Tác dụng giảm đau, chống viêm:  Các chất chiết xuất của hoa đậu biếc có tác dụng lợi tiểu, chống viêm, giảm đau, hạ sốt, chống viêm khớp, chống đái tháo đường, chống oxy hóa và cải thiện trí nhớ. 

Tác dụng giảm chứng khó thở do histamine. Giảm ho, viêm phổi và giảm số lượng bạch cầu.

Chiết xuất hoa đậu biếc giúp ức chế cơn co thắt do histamine giảm peroxide hóa lipid và oxy hóa protein, tăng nồng độ glutathione.

Ức chế α-amylase, giảm giải phóng glucose, giảm chỉ số đường huyết.

Chiết xuất dung môi nước và methanol của hoa đậu biếc đã được thử nghiệm và kết quả cho thấy tác dụng chống lại sự gia tăng của tế bào ung thư, ức chế trên dòng tế bào ung thư , ức chế trên dòng tế bào ung thư và  chống sự tăng sinh của tế bào ung thư tốt hơn.

Chủ trị:

Hoa đậu biếc được dùng để:

Tăng cường sức khỏe, giảm mệt mỏi, giảm căng thẳng, giúp dễ ngủ, an thần, giảm lo âu. Đặc biệt được dùng để cải thiện sức khỏe não bộ, cải thiện trí nhớ:

Trong Y học truyền thống, hoa đậu biếc đã được sử dụng từ xa xưa để điều trị các rối loạn thần kinh và được biết đến là có tác dụng nâng cao trí tuệ con người, dùng làm thuốc bổ não. Hoa đậu biếc được chứng minh có tác dụng giải lo âu, chống trầm cảm và chống co giật.

Ngăn ngừa lão hóa sớm:

Hoa đậu biếc chứa các thành phần có tác dụng loại bỏ các gốc oxy hóa tự do DPPH, giúp làm chậm quá trình lão hóa, giữ sự đàn hồi tươi trẻ cho da và tốt cho tóc. Chiết xuất của hoa đậu biếc đã được sử dụng để tạo ra sản phẩm mỹ phẩm làm đẹp, chống oxy hóa ở Thái Lan.

Hoa đậu biếc hỗ trợ trên bệnh đái tháo đường:

Các thí nghiệm cho thấy dịch chiết hoa đậu biếc có tác dụng giảm lượng đường huyết trong máu khi sử dụng trong thời gian dài.

Ngoài ra hoa đậu biếc còn có tác dụng kháng viêm, hạ sốt, lợi tiểu, giảm đau.

Liều dùng, cách dùng

Liều dùng: 1 – 2gam tương đương 5 – 10 hoa/ ngày

cách dùng: Pha trà với 300 – 500ml nước/ lần

Bài thuốc từ hoa đậu biếc

Trà hoa đậu biếc mật ong: 

Chuẩn bị nguyên liệu: Hoa đậu biếc khoảng 10 bông, lá đậu biếc khô nghiền mịn 1 thìa cà phê, nước nóng 240 m, mật ong 50 ml, chanh và đường vừa đủ.

Cách pha: Cho nước nóng vào ấm pha trà, tiếp đến cho hoa và lá đậu biếc vào, hãm trong 15 phút. Sau khi thấy nước có màu xanh tím, khi lá và hoa chuyển sang màu chàm, lọc lấy nước trà. Cuối cùng cho thêm đường phèn, một ít chanh và mật ong khuấy đều cho tan.

Trà hoa đậu biếc mật ong, quất, sả: 

Chuẩn bị nguyên liệu: Hoa đậu biếc 5-10 bông, mật ong 10 ml, sả 1 củ, quất 2-3 quả, nước sôi 180 ml.

Cách pha: Hoa đậu biếc sau khi rửa sạch cho vào cốc nước nóng hãm 10 – 15 phút. Sau đó, rửa sạch sả đập dập và cho vào, đồng thời vắt 2 quả quất vào hãm 1 – 2 phút. Cuối cùng lọc bỏ phần bã, lấy nước và thêm mật ong vào, hòa tan và thưởng thức.

Lưu ý khi sử dụng hoa đậu biếc

Tương tự như nhiều loại trà thảo dược khác, nếu lạm dụng thức uống hoa đậu biếc, uống quá nhiều hoặc quá đậm đặc có thể gây ra một số tác dụng phụ không mong muốn. Dưới đây là những lưu ý khi sử dụng trà hoa đậu biếc:

Phụ nữ đang mang thai không được uống trà hoa đậu biếc vì hoạt chất trong trà kích thích tử cung co bóp mạnh, ảnh hưởng đến thai nhi.

Hạt của cây hoa đậu biếc có thể gây buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đặc biệt là đối với trẻ em.

Người mắc bệnh huyết áp thấp không nên uống trà hoa đậu biếc vì có thể gây tụt huyết áp mạnh với các biểu hiện như chóng mặt, buồn nôn, choáng váng.

Phụ nữ đang trong chu kỳ kinh nguyệt hoặc người chuẩn bị phẫu thuật không nên uống trà hoa đậu biếc vì sẽ tăng cường lưu thông máu.

Người đang sử dụng thuốc chống đông máu cũng không được uống hoa đậu biếc vì hạn chế kết tụ tiểu cầu.

Một số câu hỏi thường gặp về hoa đậu biếc

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Chỉ những khách hàng đã đăng nhập và mua sản phẩm này mới có thể đưa ra đánh giá.