Hà thủ ô đỏ

Liên hệ

Mô tả

Hà thủ ô đỏ

Trong y học cổ truyền, Hà Thủ ô Đỏ được sử dụng như một chất bổ và chống lão hóa, và thường được sử dụng để điều trị rụng tóc và tóc bạc sớm.

Tên khác: Dạ giao đằng, dạ hợp…
Tên khoa học: Fallopia multiflora, thuộc họ rau răm
Tên tiếng Trung: 何首乌 (Hé Shǒu Wū)

Mô tả:

Hà thủ ô là cây leo sống lâu năm, thân mềm, nhẵn, mọc xoắn vào nhau. Rễ phình thành củ, màu nâu đỏ, củ nguyên có hình giống củ khoai lang. Lá mọc so le, hình mũi tên, gốc hình tim, đầu thuôn nhọn, dài 5 – 8cm, rộng 3 – 5cm, 3 – 5 gân xuất phát từ gốc lá, hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm bóng; cuống dài khoảng 2cm, phủ lông tơ, bị chìa mỏng, ngắn, có lông dài.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành thành chuỳ phân nhánh, dài hơn lá, lá bắc ngắn; hoa nhỏ nhiều, màu trắng, nhị 8, thường dính vào gốc của bao hoa.
Quả hình 3 cạnh, nhẵn bóng. năm trong bao hoa mà 3 mảnh ngoài phát triển thành những cánh rộng

Mùa hoa: tháng 9 – 11; mùa quả: tháng 12 – 2.

Phân bố, sinh thái

Chi Fallopia Adans, gồm các loài là cây thân cỏ và dây leo nhỏ, phân bố rộng rãi ở vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới.

Trên thế giới, hà thủ ô đỏ có ở Trung Quốc, Bắc Lào, Nhật Bản và Ấn Độ.
Ở Việt Nam, hà thủ ô đỏ chỉ có ở một số tỉnh vùng núi cao (trên 1000m) phía bắc. Cây mọc nhiều ở Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Các tỉnh khác gặp ít hơn như Hòa Bình (Mai Châu, Đà Bắc); Thanh Hoá (Son Bá Mười), Nghệ An (Kỳ Sơn). Lạng Sơn (núi Mẫu Sơn), Cao Bằng (Bảo Jac): Yên Bái (Mù Cang Chải).

Hà thủ ô đỏ là loại cây ưa khí hậu ẩm mát của vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới núi cao, Cây tia sáng và có thể hơi chịu bóng. Nơi mọc tự nhiên thích hợp nhất là các quận hệ rừng núi đá vôi; độ cao tới 1700m; nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng dưới 20°C | Hà thủ ô đỏ thường mọc ở dạt ản, xốp, nhiều mùn,
nhất là loại đất ở chân núi đá. Tuy nhiên, khi cây được trống ở đất dổi vùng trung du (Tram nghiên cứu cước liệu Vĩnh Phú cũ) hay trên đất đỏ bazan (Trại Cải tạo Đắc Trung – Đắc Lắc), đều phát triển tốt,

Hà thủ ô đỏ ra hoa quà nhiều hàng năm. Sau khi quả già, phần thân leo trên mặt đất tàn lụi, hạt giống phát tán ra xung quanh và sẽ nảy mầm vào mùa xuân hè năm sau, Hà thủ ô đỏ có khả năng tái sinh vị tính khoẻ. Từ một đoạn dây đem vùi xuống đất hoặc các củ con, cùng với các đoạn rễ còn sót lại trong khi khai thác, đều có khả năng mọc thành cây mới

Thu hái – Sơ chế:

Thu hái hà thủ ô vào mùa thu, đào về rửa sạch đất, bỏ rễ con. Củ nhỏ, để nguyên, củ to bổ đôi hoặc bổ tư, phơi hay sấy khô.

Nếu để chín rồi phơi khô thì tốt hơn, loại nguyên củ của hà thủ ô dù có hình dáng hơi giống củ khoai, mặt ngoài có những chỗ lồi lõm đặc biệt, màu nâu đỏ.

Hà thủ ô đỏ có thể chế biến như sau: Rễ củ được rửa sạch, ngâm nước vo gạo trong 24 giờ, nửa nước lại một lần nữa. Cho dược liệu vào gót, rồi cho nước đỗ đen đến ngập với tỷ lệ 1kg được liệu + 100g đỗ đen và 2 lít nước. Nấu đến khi gần cạn, đảo luôn cho thuốc chín đều. Khi rễ củ đã mền. lấy ra bỏ lõi. Nếu còn nước đậu đen thi tắm phơi cho hở. đồ phơi như vậy được chín lần là tốt (cửu chưng, cửu sái) Khi dùng thái lát hoặc bào thành phiến mỏng

Theo dược điển đông y Trung Quốc 1963 lại quy định thái hà thủ ô đỏ trộn với nước đậu đen và rượu cho vào thùng, đậy kín. Đun cách thủy cho đến khi rễ củ hút hết nước tân, Phơi khô.

Thành phần hóa học:

Hà thủ ô đỏ chứa 1,7% anthraglycosid trong đó có cryptophanol, cmodin, rhcin, 1,5% protid, 42,2% tỉnh bột, 3,1% lipid, 4,5% chất vô cơ, 26,4% chất tan trong nước…

Thành phần hoá học của hà thủ ô đỏ thay đổi trong quá trình chế biến

Theo y học cổ truyền, hà thủ ô đỏ sống chứa 7,68% tanin, 0,259% dẫn chất antraquinon tự do, 0,805% dẫn chất antaquinon toàn phần, Sau khi chế biến, dược liệu chứa 3,82% tanin, 0,13% dẫn chất antraquinon tự do, 0,25% dẫn chấtt antraquinoa toàn phần.

Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, hà thủ ô đỏ chứa emodin (1) physcion (2) emodin 1,6 duncthyl ether (3) questin (4) citreoroseia (5) questinol (0) 2 acetyl emodin (7) emodin glucosid

Chất phospholipid có 3,49% trong dược liệu thô và 1,82% trong dược liệu đã chế biến (CA . 116, 1992,)

Bộ phận dùng

Bộ phận sử dụng làm thuốc: Rễ củ

Bảo quản

Hà thủ ô chế được khơi khô, sấy khô cẩn thận nếu bảo quản không đúng cách thì dễ bị ẩm mốc, mối mọt.

Cần phải đóng gói Hà thủ ô cẩn thận như vào lọ kín. Nên để trong lọ thủy tinh hoặc sứ, tránh dùng lọ kim loại.

Bảo vệ tốt khỏi độ ẩm và nhiệt như che ánh sáng và để nơi khô ráo.

Vị thuốc Hà thủ ô đỏ:

  • Tính vị: Rễ củ hà thủ ô đỏ có vị đắng chát, hơi ngọt, tính ẩn.
  • Quy kinh:
  • Tác dụng:

Hà thủ ô đỏ có những tác dụng dược lý như:

Làm tăng đường máu, do chứa lecithin, nó có thể dùng trong suy nhược thần kinh và bệnh về thần kinh. giúp sinh huyết dịch, bổ tim, giúp cải thiện chuyển hóa chung; do chứa ahraglucosid nên kích thích co Bóp ruột, kích thích tiêu hoá, cải thiện dinh dưỡng.

Hà thủ ô đỏ có tác dụng nội tiết kiểu oestrogen, các dụng kêu Progesterone nhẹ trên nội mạc tử cung, làm tăng trương lực cơ tử cung.

Hà thủ ô đỏ có tác dụng nâng cao tỷ lệ sống hoặc kéo dài thời gian cầm cự, tác dụng chống co thắt phế quản, kéo dài thời an toàn trong mô hình khí dung histamin.

Hà thủ ô đỏ có tác dụng chống viêm trên các mô hình thực nghiệm, gây phù cấp tính và viêm mạn tính. gây rỉ dịch màng phổi bằng tinh dầu thông, gây viêm dị ứng và viêm đa khớp bảng WCG.

Tác dụng bổ gan, thận, bổ máu, ích tinh tủy, hoà khí huyết, mạnh gân xương, nhuận tràng

Ứng dụng lâm sàng của Hà thủ ô đỏ

Rễ hà thủ ô đỏ chữa thận suy, gan yếu, thần kinh suy nhược, ngủ kém, sốt rét kinh biến, thiếu máu, đau lưng mỏi gối, di mộng tinh, khí hư, đại tiểu tiện ra máu, khô khát táo bón, da mẩn ngứa không có mủ. Uống lâu làm đen râu tóc đối với người bạc tóc Sớm, làm tóc đỡ khô và đỡ rụng.

Trong y học cổ truyền Trung Quốc, hà thủ ô sống tươi và khô có tác dụng thông tiểu, giải độc, tiêu ung thũng, chữa táo bón cho phụ nữ sau khi đẻ hoặc người già, mụn nhọt, ghẻ lở, eczema, tràng nhạc có thể phối hợp với hạ khô thảo, kim ngân hoa.

Hà thủ ô chế có tác dụng bổ gan thận, ích tinh huyết. dùng làm thuốc an thần, bố và tăng lực trong các chứng thân thể suy yếu, hoa mắt, chóng mặt, tim hồi hộp, nhức đầu, mất ngủ, suy nhược thần kinh, còi xương, bệnh tạng rỉ dịch và để hồi phục sức khỏe cho người già sau khi bị bệnh (phối hợp với sinh địa, bạch thược, cúc hoa). kích thích tạo hồng cầu và bạch cầu trong các bệnh về máu và thiếu máu.

Hà thủ ô dùng chữa đau mỏi chân tay, di tinh (phối hợp với đương quy, ngưu tất, kỷ tử, thỏ ty tử), chữa sốt rét lâu ngày, khí huyết suy nhược (phối hợp với nhân sâm, đương quy, trần bì), giải nhiệt và lợi tiểu và làm chất sản trong điều trị phối hợp chữa ỉa chảy. Dùng ngoài dạng thuốc mỡ chữa một số bệnh da. Liều dùng: ngày 10 – 20g.

Ở Ấn Độ, rễ hà thủ ô đỏ được dùng làm thuốc bó, chống bệnh scorbut và làm đen tóc. Nó còn có tác dụng đối với bệnh tăng đường máu. Một chế phẩm của bà thủ ô đỏ được dùng cho phụ nữ sau khi đẻ.

Rễ hà thủ ô đỏ được dùng trong y học cổ truyền Trung Quốc và Nhật Bản để điều trị viêm da mủ, bệnh lậu, bệnh nấm favut ở chân, bệnh viêm và tăng lipid máu.

Liều dùng, cách dùng

Tùy từng trường hợp khác nhau mà có các cách dùng hà thủ ô đỏ khác nhau.

Trường hợp bị rụng tóc hoặc tóc bạc sớm: Mỗi ngày chỉ nên sử dụng 2- 4 gram hà thủ ô đỏ.

Tình trạng thiếu máu, mất ngủ, cơ thể bị suy nhược, tình trạng căng thẳng, mệt mỏi: Mỗi ngày sử dụng 4-6 gram hà thủ ô đỏ.

Sinh lý kém, thể lực giảm sút: Ngày sử dụng từ 4 – 6 gram hà thủ ô đỏ. Sử dụng 15-20 ngày

Người rối loạn tiền đình, người bị cao huyết áp, mỡ máu: Ngày sử dụng từ 2- 3 gram.

Bài thuốc từ hà thủ ô đỏ

1. Chữa phong lở ở đầu mặt, ngứa khắp mình (Hải Thượng Lãn Ông)

a. Bài thuốc ngâm rượu: Rễ gắm sao 120g, vỏ chân chim sao 100g, rễ rung rúc sao 80g, rễ cây bươm bướm sao 60g, rễ chiên chiến sao 60g, cây bấn đỏ sao 40g, cây bấn trắng sao 40g, quy bầu 40g, ô dược 40g, cỏ xước sao 40g, rễ bưởi bung sao 40g, rễ cỏ chỉ sao 80g, cỏ roi ngựa sao 24g, rễ cây chỉ thiên 24g, tang ký sinh 40g, hà thủ ô đỏ (9 lần đồ, 9 lần phơi) 60g.

Cách chế: Tán nhỏ các vị thuốc, gói vào một túi vải và bỏ vào trong hũ rượu, trát đất kín miệng, nấu lên trong thời gian cháy hết một nén hương, rồi chôn xuống đất 3 ngày đêm. Uống dần ít một vào lúc đói.

b. Bài thuốc viên (dùng kết hợp với bài thuốc trên):

Hà thủ ô đỏ 320g, cẩu tích 240g (tẩm rượu, nấu với nước muối, phơi khô), cốt toái bổ 160g (cạo lông, thái nhỏ, nấu với nước mật, phơi khô), thạch hộc 160g (rửa với rượu, chưng kỹ, phơi khô), quán chúng 100g (phơi trong trám, bỏ lông và vỏ), hy thiêm 160g (chung với rượu và mật), lá ké đầu ngựa 40g (phơi râm), rễ cỏ xước 160g (dùng tươi, rửa với rượu), vỏ chân chim sao 160g. Rễ gắm sao 160g

Cách chế: Các vị tràng tán bột luyện mát làm viên, uống mỗi lần 8 – 12g với nước gừng hay rượu

2. Chữa đái rắt buốt, đái ra máu ( Hải Thượng Lãn Ông)

a. Lá hà thủ ô đỏ tươi giã vắt lấy nước, hoà với mật uống.

b. Lá hà thủ ô đỏ, lá huyết dụ, lượng bằng nhau, Sắc rồi hoà thêm một uống.

3. Chữa tóc rụng và bạc sớm, hồi hộp, chóng mặt, ù tai, hoa mắt, đau mỏi lưng khớp, táo bón: Lá thủ ô chế, sinh địa, huyền sâm, mỗi vị 20g. Sắc uống

4. Chữa xơ cứng mạch máu người già, tăng huyết áp. nam giới chậm có con: Hà thủ ô đỏ 20g, tang ký sinh, kỷ tử, ngưu tất đều 16g. Sắc uống

5. Chữa phong thấp đau lưng, viêm dây thần kinh hồng, vận động khó khăn: Hà thủ ô đỏ, ngưu tất mỗi vị 30g, cẩu tích 16g, huyết giác 12g, thiên niên kiện 12g, bạch chỉ 6g. Sắc uống.

6. Thuốc bổ dùng cho người già yếu, thần kinh suy nhược, tiêu hoá kém: Hà thủ ô đỏ 10g, đại táo 5g, thanh bì 2g, trần bì 3g, sinh khương 3g, cam thảo 2g, nước 60ml Sắc còn 200ml, chia 3 – 4 lần uống trong ngày.

7. Thuốc bổ khí huyết, mạnh gân cốt: Hà thủ ô trắng và hà thủ ô đỏ với lượng bằng nhau, ngâm nước vo gạo 3 đêm, sao khô tán nhỏ, luyện với mật làm viên to bằng hạt đậu xanh. Uống mỗi ngày 50 viên với rượu vào lúc đói.

8 Thất bảo mỹ nhiệm đơn, làm tàu tóc trắng hoá đen, khỏe gân xương, bền tinh khí, sống lâu: Hà thủ ô đỏ và trắng, đã chế biến, mỗi thứ 600g. Xích phục linh và bạch phục linh, mỗi vị 600g. Cạo bỏ vỏ, tán bột, khuấy với nước trong, lọc lấy bột lắng ở dưới, nắm lại, tẩm với sữa người, phơi khô.

– Ngưu tất 320g, tẩm rượu để một ngày, trộn với hà thủ ô và đồ với đậu đen vào lần thứ 7, 8, 9 rồi phơi khô.

– Đương quy 320g tẩm rượu phơi khô,

– Câu kỷ tử 320g tâm rượu phơi khô.

– Thỏ ty tử 320g tẩm rượu cho nứt ra, giã nát phơi khô.

– Bổ cốt cho 100g, trộn với vừng đen, sao cho ốc mùi thơm.

Tất cả giã nhỏ, trộn đều, thêm mật vào làm thành viên 0.5g. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 50 viên. Sáng dùng rượu chiều thuốc, trưa dùng nước gừng, tối dùng nước muối.

9. Chữa viêm học võng mạc trung tâm thanh dịch: Hà thủ ô đỏ 20g, thục địa 20g, trạch tả 12g, hoài sơn 12g, cúc hoa 8g, nấu với nước thành cao lỏng, uống.

10. Viên bổ Ngũ hà (chữa thiếu máu, mệt mỏi, tiêu hoá kém): Mỗi viên có: Cao ngũ gia bì 0,1g, bột mã tiền 0,01g. bé hà thủ ô đỏ 0,01g. bột oxalat 0.03g, mật ong 0,01g.

11. Viên bổ hà thủ ô (chữa sốt rét, gầy yếu, ăn ngủ kém, đau xương, di tinh, bạch đới) trẻ em chậm đi, chậm mọc răng):
Hà thủ ô đỏ 500g, sâm bố chính 300g, hạt sen 300g, cam thảo 100g, đại hồi 100g. thảo quả 100g. Ba vị hà thủ ô, hạt sen, sâm đỏ chín. Cam thảo nướng vàng. Thao quả bỏ vỏ, lấy nhân. Trộn chung sấy khô, tán nhỏ, rây bột mịn, luyện với mật ong làm viên bằng hạt đỗ đen. Trẻ em mỗi lần uống 6 – 15 viên (tuỳ tuổi) người lớn mỗi lần uống 20 viên.

Lưu ý khi sử dụng hà thủ ô đỏ

Người có huyết áp thấp và đường huyết thấp không dùng hà thủ ô đỏ. Khi uống hà thủ ô đỏ, kiêng ăn hành, tỏi, cải củ.

Không nên sử dụng hà thủ ô tươi vì nó dễ gây nhiều tác dụng phụ không mong muốn như dễ gây tăng men gan, giảm bài tiết nước tiểu, gây táo bón…

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Chỉ những khách hàng đã đăng nhập và mua sản phẩm này mới có thể đưa ra đánh giá.