Hạ khô thảo

320.000

Mã: GKHKT Danh mục: Từ khóa:

Mô tả

Hạ khô thảo có vị đắng, hơi cay, tính mát, thường dùng thanh lọc gan và cải thiện thị lực, giải độc. Đau đầu, chóng mặt, ù tai, viêm vú, quai bị, nhọt sưng nhọt độc, viêm gan cấp và mãn tính, tăng huyết áp.

Hạ Khô Thảo:

Tên khác:
Tên khoa học: Prunella vulgaris
Tên Tiếng Trung: 夏枯草 (Xià Kū Cǎo)
Thuộc họ: Bạc hà (Lamiaceae)

Mô tả dược liệu:

Cây thảo, sống nhiều năm, cao 20 – 30cm. Thân đứng, hình vuông, màu tím đỏ, mọc đối, hình trứng hoặc hình mác, gốc thuôn, đầu nhọn hoặc hơi tù, dài 4 – 5cm, rộng 1,2 – 1,5cm, có ít lông, mép nguyên hoặc hơi có răng cưa.

Cụm hoa mọc ở đầu cành thành bông hình trụ, dài 2 – 3cm; lá bắc có màu tím đỏ ở mép, hoa nhỏ mọc thành nhiều vòng sít nhau, đài hình chuông chia hat môi, môi trên rộng có 3 răng, môi dưới xẻ sâu thành hai thuỳ, tràng màu tím nhạt cũng có 2 môi, môi trên như cái mũ, môi dưới xẻ 3 thuỳ, thuỳ giữa lớn hơn hơi có răng: nhị 4, 2 dài, 2 ngắn mọc thò ra ngoài tràng.
Quả nhỏ, cứng. Mua hoa quả: tháng 4 – 6.

Phân bố, sinh thái

Chi Brunella L. gồm một số ít loài, phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới ẩm châu u và cận nhiệt đới châu Á. Ở Việt Nam, chi này có 1 loài là hạ khô thảo.

Hạ khô thảo phân bố chủ yếu ở một số vùng thuộc Ấn Độ, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Australia. Ở Việt Nam, cây cũng chỉ gặp ở một số nơi thuộc vùng núi cao, từ 100m trở lên như Tam Đảo (Vĩnh Phúc); Sapa, Mường Khương. Bát Xát, Bắc Hà (Lào Cai); Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ (Hà Giang); Sìn hồ, Tủa Chùa (Lai Châu), Mù Cang Chải (Yên Bái)…

Hạ khô thảo là cây ưa ẩm và ưa sáng, thường mọc thành đám trên đất ẩm, nhiều bùn gần bờ suối, trong thung lũng. Cây thích nghi với điều kiện khí hậu ẩm mát quanh năm, ở vùng nhiệt đới núi cao, nhiệt độ trung bình dưới 20 độ C. Về mùa đông, phần thân cành trên mặt đất tàn lụi, phần thân rễ nằm sát mặt đất có thể chịu đựng được nhiệt độ thấp tới 0⁰C đến
tháng 3 – 4 năm sau, tái sinh chồi trở lại.

Hạ khô thảo ra hoa quả hàng năm, quả già tự mở, hạt thoát ra ngoài rơi xuống đất và sẽ nảy mầm vào cuối mùa xuân hoặc đầu mùa hè năm sau, Hạ khô thảo có khả năng đẻ nhánh nhiều từ thân rễ. Do đó, trong tự nhiên cây thường mọc thành đám bò lan trên mặt đất, khó phân biệt thành từng cá thể.

Thành phần hóa học:

Hạ khô thảo chứa alcaloid là trong nước, muối vô cơ 3,5% chủ yếu là muối KCl, tinh dầu có chứa camphor, D – fenchon, ít alcol fenchilic, một glucosid đắng là prunclin mà phần không đường là acid ursolic. Ngoài ra, còn có delphindin, cyanidin.

Ở Pháp, người ta xác định trong cây có nhựa, chất đắng, tanin, tinh dầu, chất béo, lypase, một glucosid tan trong nước 0,7g/kg dược liệu khô, 1 saponosid acid 1,10g (Theo Võ Van Chi – Từ điển cây thuốc Việt Nam trang 538 và Từ điển bách khoa dược học trang 282)

Người ta đã tách được từ toàn cây hạ khô thảo các chất acid olcanolic; β amyrin; (22.E, 22S, 24S) stigmata – 7 – 22 – dien – 3. on; α spinasterol, β sitosterol, daucosterol; 3β hydroxy – olcan – 12en. 28ald – 3β hydroxy, urson – 12- en – 28ald: olean – 12 – en – 28al – 3β – 28diol và urson • 12cn – 3β – 28diol (CA. 124, 1996, 352851g).

Hai chất ursan glucosid pruvulosid A và B cùng với các chất nigaichigosid F2; sencosid, quercetin, quercetin – 3: glucosid, kaempferol – 3 – 0 – glucosid và hỗn hợp nigaichigosid F1 và arjurglucosid I cũng đã được phân lập từ dịch chiết MeOH của loài hạ khô thảo thu thập ở Pháp (CA – 124, 1996, 170601)

Hai chất triterpenoid hexacylic dưới dạng methyl ester đã được phân lập từ rễ hạ khô thảo là: Acid (IIR, 13S) – 2α – 3α – 24 trihydroxy – 12 – 13 – cyclotaraxer – 14 – en – 28 oic và acid (13S, 14R) 2α – 3α – 24 trihydroxy – 13 – 14 – cyclo olean – 11 en – 28 oic (CA. 109. 1998, 236725W).

Thành phần hoá học của tinh dầu chiết từ quả được xác định bằng GC.MS có 17 thành phần, trong đó acid hexadecanoic CH3, (CH2)14, COOH là thành phần chủ yếu chiếm 17,16% (CA, 122, 1995, 10651).

Prunelin là dẫn xuất từ galactosamin có thành phần đường chủ yếu là glucose và lactose cùng với một lượng nhỏ xylose và acid aldonic.

Prunelin có tác dụng anti HIV. (CA, 111, 1989. 166835m)

Ngoài ra, 4 chất D. glucopyranosid của một số sterol cũng được chiết tách và xác định cấu trúc (CA, 113, 1990, 1293811)

Tính vị – Quy kinh:

Hạ khô thảo có vị đắng, hơi cay, tính mát,

Bộ phận dùng

Cụm họa kèm cành mang lá dài không quá 15cm tính từ ngọn hoa,

Thu hái – Sơ chế:

Thu hái vào tháng 4 – 6, sấy nhẹ đến khô.

Bảo quản

Sau khi phơi khô bảo quản ở nơi thoáng mát, tránh ẩm ướt

Tác dụng dược lý Hạ khô thảo

Hạ khô thảo có tác dụng hạ huyết áp khá mạnh trên động vật bình thường hoặc đã được gây cao huyết áp thực nghiệm, đồng thời có tác dụng co mạch. Tác dụng này không bị ảnh hưởng bởi atropin.

Các muối vô cơ trong nước sắc hạ khô thảo, Tiêm tĩnh mạch cho thỏ, gây hạ huyết áp, kích thích hô hấp và có tác dụng lợi tiểu.

Các chất tan trong nước của hạ khô thảo có tác dụng hạ huyết áp lâu dài trên bệnh nhân và làm hết các triệu chứng của bệnh cao huyết áp.

Một bài thuốc gồm 7 vị trong đó có hạ khô thảo được bào chế dưới dạng thuốc viên để điều trị bệnh tổ đỉa, phối hợp thuốc bôi ngoài hiệu quả khỏi và đỡ đạt 84% trong số 50 bệnh nhân được điều trị.

Hạ khô thảo còn có tác dụng an thần, Cao toàn phần và bộ phận không thể xà phòng hoá của toàn cây hạ khô thảo không có tác dụng kích thích hoạt tính thực bào của hệ lưới – nội mô ở chuột nhắt gây nhiễm với Escherichia coli.

Trong khi nghiên cứu hoạt tính chống đột biến của các thuốc thảo mộc chống ung thư dùng trong y học Trung Quốc, bằng cách sử dụng hệ thống Salmonella – vi tiểu thể với sự hiện diện của acid picrolonic hoặc benzo (a) Pyren để thử nghiệm xem chúng có chứa những chất kháng đột biến trực tiếp hoặc gián tiếp. Người ta thấy dịch chiết hạ khô thảo sống được sắc với nước sôi trong 2 giờ theo phương pháp bào chế thông thường có hoạt tính kháng đột biến ở mức độ vừa phải đối với sự đột biến này bởi acid picrolonic và có khả năng ức chế hoàn toàn tính chất gây đột biến của benzo(a) pyren.

Acid ursolic chiết xuất từ Hạ khô thảo có tác dụng độc hại tế bào đối với những tế bào P. 388 và L – 1210 trong bệnh bạch cầu lympho và với tế bào A – 549 trong bệnh ung thư biểu mô phổi. Nó cũng có tính chất độc hại tế bào đối với những tế bào HCT – 8 Trong ung thư kết tràng, và Mcf – 7 trong ung thư vú người. Việc Ester – hóa nhóm hydroxyl ở C – 3 và carboxyl ở C – 17 dẫn đến những hợp chất có tính độc hại tế bào giảm đối với những dòng tế bào ung thư người, nhưng có hoạt tính đối kháng tương đương hoặc hơi tăng đối với sự phát trên của những tế bào L – 1210 và P – 388 trong bệnh bạch cầu

Công năng

Hạ khô thảo có tác dụng thanh can hoả, tán uất kết, tiêu huyết ứ, tiêu sưng, mát gan, lợi tiểu, sát trùng, tiêu độc.

Chủ trị

Hạ khô thảo được dùng chữa sưng vú, trắng nhạc (lao hạch), bướu cổ, đau nhức mắt hay chảy nước mắt, viêm tử cung và âm hộ, huyết áp cao, viêm chân kinh da, lở ngứa, mụn nhọt, hắc lào, vảy nền, tiểu tiện ít không thông.

Ứng dụng lâm sàng của Hạ khô thảo

1. Điều trị bệnh lao phổi hạ khô thảo có tác dụng nhất định đối với bệnh lao phổi thể thâm nhiễm, mãn tính, lao phổi lan tỏa theo đường máu .

Lấy 2 lạng hạ khô thảo, sắc trong nước khoảng 3 lần uống; hoặc dùng 20kg hạ khô thảo, sắc trong nước thành 5000ml, thêm 2kg đường nâu để sắc thành thuốc mỡ, uống một lần vào buổi sáng và tối, mỗi lần thời gian ~ 15 ml, 1 tháng Là một đợt điều trị.

Các triệu chứng như ho , đau ngực , khạc ra, sốt và ho ra máu đã biến mất hoặc thuyên giảm sau khi dùng thuốc , và sự hấp thu của các tổn thương được cải thiện ở các mức độ khác nhau.

Đối với những người bị ho lao, ho ra máu dùng 1 lạng hạ khô thảo, ngâm với 2 lượng rượu gạo và nước rồi hấp cách thủy đến khi không còn rượu, lọc lấy nước, người lớn mỗi lần uống ~ 40ml, ngày uống 3 đến 4 cái. mỗi ngày một lần, có tác dụng cầm máu .

2. Điều trị viêm màng phổi có dịch tiết bằng 1 lọ nấm hạ khô thảo, thêm 2000ml nước, sắc còn 1000-1200ml, uống mỗi lần 30-50 ml, ngày uống 3 lần, phối hợp với các phương pháp điều trị triệu chứng khác nếu cần, nhưng không thêm thuốc chống lao .

Có 9 bệnh nhân viêm màng phổi tiết dịch được điều trị, trừ 2 bệnh nhân khỏi bệnh và tự động xuất viện, còn lại các bệnh nhân đều khỏi.

Thời gian nằm viện trung bình 35,6 ngày, sốt 7,7 ngày, truyền dịch thấm 24,7 ngày.

Lấy 2 lượng lá hạ khô thảo trị lỵ trực tràng , ngâm nước 10 giờ, sắc với lửa nhỏ khoảng 2 giờ, ngày uống 4 lần, liệu trình 7 ngày.

Hoặc lấy cành hoa hạ khô thảo đã phơi khô bào chế thành dịch chiết 100%, mỗi lần uống 2ml đối với trẻ em, 30ml mỗi lần đối với người lớn, ngày uống 2 đến 3 lần.

3. Điều trị viêm gan cấp tính do nấm, hạ khô thảo là phương pháp điều trị chính cho 75 trường hợp mắc bệnh này, 62 trường hợp đạt tiêu chuẩn chữa khỏi lâm sàng.

Liều lượng, cách dùng: Mỗi ngày lấy 2 lạng hạ khô thảo và 1 lạng táo tàu , thêm 1500ml nước, đun nhỏ lửa, cho táo tàu vào xay nhuyễn, sắc còn 300ml, bỏ bã, chia làm 3 lần uống.

Trong trường hợp nghiêm trọng, liều có thể được tăng lên.

Hoặc dùng 2 lạng hạ khô thảo và 2 lạng thịt nạc (không có mỡ), mỗi thứ thêm 1200ml nước, sắc kỹ trong hơn một giờ rồi gộp cả hai lại, đun nhỏ lửa còn 300ml, bỏ bã, dùng ngày 3 lần.

Thông thường, 30 ngày là một đợt điều trị, nếu cần thiết, đợt điều trị thứ hai có thể được thực hiện sau 2 đến 3 ngày.

Trong quá trình điều trị, vitamin B , C và một lượng nhỏ glucose có thể được dùng như một liệu pháp bổ trợ.

Các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân biến mất hoặc cải thiện trong vòng 2 đến 14 ngày; thời gian rút gan và lá lách từ 10 đến 65 ngày; thời gian rút vàng da từ 3 đến 21 ngày; các xét nghiệm độ đục kết bông khác nhau có thời gian chuyển đổi âm tính từ 7 đến 71 ngày.

Không có tác dụng độc hại nào được tìm thấy trong quá trình điều trị.

Liều dùng, cách dùng hạ khô thảo

Ngày dùng 20 – 100g. dạng thuốc sắc. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.

Bài thuốc từ hạ khô thảo

1. Chữa tràng nhạc, lở loét:
a. Hạ khô thảo 20g. Sắc đặc uống trước khi ăn cơm 2 giờ.
b. Hạ khô thảo 8g, cam thảo 2g, sắc với 600ml nước còn 300ml, chia 3 lần uống trong ngày.

2. Chữa tràng nhạc, mã đao, sưng tuyến giáp, quai bị, viêm tuyến vú, viêm hạch: Hạ khô thảo, huyền sâm, mỗi vị 20g, xạ can, nga truật, hoàng đằng, mỗi vị 10g. Sắc uống. Ngoài dùng nhân hạt gấc mài với giấm bôi.

3. Chữa mụn nhọt:

  • Mụn nhọt sưng tấy: Hạ khô thảo 12g, kim ngân 12g, sài đất 12g. bồ Công anh 12g, vòi voi 10g, ké đầu ngựa 12g, sinh địa 12g, ngưu tất 12g, cam thảo đất 8g. Sắc uống ngày một thang.
  • Mụn nhọt kéo dài: Hạ khô thảo 12g, sinh địa 12g, vòi voi 12g, mạch môn 12g, cỏ nhọ nồi 12g, kim ngân 12g, sài đất 12g, ngưu tất 12g. Sắc uống ngày một thang.

4. Chữa tổ địa: Hạ khô thảo 50g, vỏ núc nác 30g, quả ké 50g, thổ phục linh 50g, sinh địa 20g, hạt dành dành 15g, khổ sâm 30g. Làm thành dạng viên, ngày uống 20 – 25g.

5. Chữa xích bạch đới: Hạ khô thảo tán nhỏ, mỗi lần uống 8g với nước cơm.

6. Thông tiểu tiện: Hạ khô thảo 8g, hương phụ tử 2g, cam thảo 1g sắc với 600ml nước còn 300ml, chia 3 lần uống trong ngày.

7. Chữa bị đánh hoặc bị thương: Hạ khô thảo tươi giã nhỏ, đắp vào vết thương.

8. Chữa cao huyết áp:

  • Hạ khô thảo (rửa sạch phơi khô thái nhỏ) 40g. Sắc với nước, chia 2 lần uống sau bữa cơm trong ngày. Uống liên tục 10 ngày, nghỉ 7 ngày. Rồi uống tiếp tục như thế 2 – 4 đợt, tuỳ bệnh nặng nhẹ.
  • Hạ khô thảo, bồ công anh, hạt muồng ngủ sao, mỗi vị 20g, hoa cúc, lá dâu, mã đề, mỗi vị 12g. Sắc uống.
  • Hạ khô thảo, ngưu tất, long đờm thảo, a long, hải tảo, các vị bằng nhau Nấu thành cao lỏng Ngày uống 2 lần, mỗi lần một thìa canh pha với nước nóng.

9. Chữa viêm gan siêu vi khuẩn:

  • Thể cấp tính: Hạ khô thảo 40g, thổ phục linh 12g, nghệ vàng 10g, mã đề 40g, rau má 40g. Sắc uống ngày một thang.
  • Thể mạn tính: Hạ khô thảo 30g, ý dĩ 20g, gừng khô 3 lát, dành dành 12g, hoài sơn 20g, thổ phục linh 12g, sâm bố chính 20g, mã đề 10g, trần bì 6g. Sắc uống ngày một thang. Nếu cần thiết điều trị kết hợp với y học hiện tại.

Dùng ở Trung Quốc:

Chữa cao huyết áp giai đoạn đầu với mức huyết áp trên 200mm thuỷ ngân.

Hạ khô thảo 10g, tang ký sinh 26, 4g. Sơn thù du 10g, mẫu đơn bì 10g, trạch tả 13,2g, bạch thược 16,5g, sài hồ 6,6g, hoàng cầm 10g, sinh địa 10g. Sắc với 800ml nước còn 300ml, chia 3 lần uống trong ngày. Sau 3 – 4 lần uống thuốc, huyết áp giảm.

Những lưu ý khi sử dụng Hạ khô thảo

Những người tỳ vị hư yếu hoặc người bị phong thấp dùng hạ khô thảo dễ gây tiêu chảy , thậm chí làm tình trạng bệnh nặng thêm.

Dùng hạ khô thảo với số lượng lớn trong thời gian dài có thể có tác dụng phụ là tăng tải cho gan thận, lâu ngày có thể gây tích tụ các thành phần thuốc bắc và gây ngộ độc , mắc các bệnh nguy hiểm như gan, thận.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Chỉ những khách hàng đã đăng nhập và mua sản phẩm này mới có thể đưa ra đánh giá.