Đương quy

450.000

Mã: GKDQ Danh mục: Từ khóa: , ,

Mô tả

Đương quy là một vị thuốc quý, có tác dụng bồi bổ cơ thể, chữa đau nhức xương khớp, suy nhược cơ thể, thiếu máu và điều trị các bệnh lý liên quan đến phụ nữ như kinh nguyệt không đều, vô kinh, đau bụng, tiểu dắt tụ máu tử cung.

Dược liệu Đương quy

Tên khác: Tân quy, can quy
Tên khoa học: Angelica sinensis
Tên Tiếng Trung: 当归 (Dānɡ Guī)
Thuộc họ: Hoa tán

Mô tả dược liệu:

Cây thảo lớn, sống lâu năm, cao 40 – 60cm, có thể đến 1m khi cây có hoa. Thân hình trụ, có rãnh dọc, màu tím. Lá mọc so le, xẻ lông chim 3 lần, gốc phát triển thành bẹ to, đầu nhọn, lá chét phía dưới có cuống, lá chét gần đầu là không cuống, mép chia thùy và răng cưa không đều.

Cụm hoa mọc ở ngọn thân thành tần kép gồm 12 – 20 tán, dài ngắn không đều hoa nhỏ màu lục nhạt.

Quả bế dẹt, có rìa màu tím nhạt, Toàn thân nhẵn và có mùi thơm đặc biệt, Mùa hoa quả: tháng 7 – 8.

Phân bố, sinh thái

Chi Angelica L có khoảng 70 loài, phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới Bắc bán cầu và New Zealand.

Việt Nam đã 3 lần nhân giống đương quy của Trung Quốc (khoảng giữa nam 60), Triều Tiên (1978) và gần đây là của Nhật Bản (1996), Giống đương quy nhập từ Trung Quốc hiện không còn, hai giống còn lại vẫn đang được trồng ở các tỉnh Hà Giang, Lào Cai. xung quanh Hà Nội Theo Nguyên Chiếu Và Lê KTM Loan (1999) 2 giống đương quy này đều thuộc một loài A. acutiloba (Sieb. ct Zucc.) Kitagawa,

Thành phần hóa học:

Trong đương quy chứa tinh dầu (0,2%), chất đường, sinh tố B12, butylidene phthalide, ligustilide, carotene.

Chứa Artemisia lactone (Ligustilide), n-butenes acid lactone (n-butylidene phthalide), axit ferulic, axit nicotinic, sucrose, và các axit amin, và các hợp chất sesquiterpene.

Các thành phần hòa tan trong nước của Angelica bao gồm axit ferulic, axit succinic , niacin, uracil , adenine, v.v., cũng như các axit amin, Vit B2, Vit E, β -sitosterol và axit linoleic . Nó cũng chứa các nguyên tố vi lượng như mangan, niken, đồng và kẽm . Ngoài ra, nó vẫn chứa polysaccharides, sucrose, dầu dễ bay hơi, v.v. Dầu dễ bay hơi có chứa hơn 40 loại thành phần như ligustilide, n -butenyl lactone, angelicone và carvesol .

Tính vị – Quy kinh:

Vị cay, ngọt, đắng, thơm, tính ôn

Vào kinh tâm, can, tỳ

Bộ phận dùng

Bộ phận sử dụng làm thuốc là rễ

Thu hái – Sơ chế:

Rễ đương quy trồng được 3 tuổi, đào vào mùa thu, cắt bỏ rễ con, bó thành bỏ nhỏ, xếp lên giá, đốt xông nóng (không được đốt trực tiếp), cho đến khi dược liệu có màu đỏ tươi hay màu vàng kim tuyến, rồi sấy than. Theo kinh nghiệm nhân dân Trung Quốc, không phơi chỗ râm mát (đương quy có màu xanh) và cũng không phơi nắng (mất tinh dầu)

Bảo quản

Sau khi phơi khô bảo quản ở nơi khô ráo, tránh ẩm ướt

Tác dụng dược lý của đương quy

  • Có hoạt tính trên chức năng nội tiết sinh dục động vật cái, gây tác dụng kiểu estrogen và progesteron yếu.
  • Rễ và lá có tác dụng hướng sinh dục yếu trên chuột cống trắng cái non, tác dụng này không ổn định. Dược liệu không có tác dụng hướng sinh dục trên chuột cống đực non
  • Rễ và hạt gây tăng trương lực và biên độ co bóp tử cung cô lập và tại chỗ của động vật thí nghiệm. Liều 0,2g rễ và 0,4g hạt đương quy tăng biên độ co bóp tử cung cô lập chuột lang tương đương 0,1 đơn vị pituitrin
  • Rễ có tác dụng tăng lực rõ rệt trong thí nghiệm chuột nhắt trắng bơi gắng sức.
  • Rễ có tác dụng tăng sức đề kháng cơ thể động vật trong thí nghiệm gây độc với ammoni clorid một cách rõ rệt.
  • Rễ có tác dụng chống viêm đối với cả hai giai đoạn cấp tính và mạn tính của phản ứng viêm thực nghiệm và không có tác dụng gây thu teo tuyến ức chuột non. Như vậy, đương quy có đặc điểm tác dụng chống viêm tương tự các thuốc chống viêm phi steroid, tác dụng chống viêm không kèm theo tác dụng ức chế miễn dịch.
  • Đặc tính cấp tính của rễ và hạt đương quy rất thấp. Rễ có độc tính cấp tính thấp hơn so với hạt.

Bài thuốc Tứ vật trong có đương quy Trung Quốc đã được nghiên cứu trên bệnh thiếu máu thực nghiệm gây bằng acetat chì. Có tác dụng làm tăng số lượng hồng cầu và tỷ lệ huyết sắc tố của động vật gây thiếu máu.

Đương quy Trung Quốc có tác dụng ức chế sự co thắt cơ trơn ruột cô lập gây bởi acetylcholin và histamin và có khả năng bảo vệ hệ thống miễn dịch đối với những bệnh nhân ung thư vòm họng đang điều trị bằng tia xạ. Nó làm tăng số lượng tế bào lympho 1 nói chung và số lượng tế bào lympho T hoạt động. đồng thời làm phục hồi khả năng tạo hoa hồng của tế bào lympho T bị ức chế bởi theophylin. Dược liệu làm tăng sức đề kháng của cơ thể bệnh nhân, tăng chất lượng của hồng cầu và hạn chế sự giảm tỷ lệ huyết sắc tố.

Rễ của đương quy Trung Quốc có 2 thành phần một thành phần kích thích tử cung, và một thành phần ức chế tử cung. Thành phần ức chế chủ yếu là tinh dầu. Thành phần kích thích không phải tinh dầu và tan trong nước hoặc cồn trên chuột nhắt trắng được nuôi với thức ăn có 5% đương quy trong 4 tuần thấy ở tổ chức gan, lượng tiêu thụ oxy tăng và năng lực sử dụng glucose của tử cung tăng. Trong tử cung, sự tổng hợp acid nucleic không tăng, nhưng lượng ADN tầng rõ rệt, do đó đương quy có tác dụng gây tăng sinh tử cung.

Công năng

Đương quy có vị ngọt hơi đắng. hơi cay, mùi thơm, tính ôn, có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, điều kinh, thông kinh, dưỡng gân, tiêu sưng, nhuận tràng.

Chủ trị

Kinh nguyệt không đều, đau bụng, chấn thương, ứ huyết, tê nhức, huyết hư, đại tiện bí.

Thiếu máu, sắc mặt tái, gầy yếu, kinh nguyệt không đều dùng Đương quy với Bạch thược, Thục địa hoàng và Xuyên khung trong bài Tứ Vật Thang.

Kết quả nghiên cứu dược lý

Cao nước đương quy hoặc dang chiết với ether tác dung trên tâm nhĩ thỏ cô lập, kéo dài giai đoạn trơ, do đó có tác dụng đối kháng với chứng cuồng động nhĩ gây thực nghiệm bởi acetylcholin hoặc kích thích điên, và đối kháng với hoạt tính gây tăng nhanh nhịp tim của cà độc dược. Nước sắc hoặc cao cồn đương quy trên tĩnh mạch cho động vật gây mê có tác dụng hạ huyết áp. Có ý kiến cho rằng thành phần tinh dầu làm tăng huyết áp, thành phần không tinh dầu làm hạ huyết áp. Nước súc và dạng chiết bằng ether của đương quy có tác dụng gây trấn tĩnh. Đương quy cho vào thức ăn của chuột với tỷ lệ 5 – 6% có tác dụng phục hồi đối với những chuột đực mà tinh hoàn bị thoái hoá do thiểu vitamin E. Đương Quy chứa vitamin B12 và acid folic, nên có tác dụng chống thiếu máu ác tính. Thử với phương pháp hệ nồng độ cho thấy đương quy có tác dụng ức chế trực khuẩn dịch hạch ở nồng độ 1:160 và Shigella shigae ở nồng độ I: 80 Các trực khuẩn thương hàn và phó thương hàn, phẩy khuẩn tả cũng bị ức chế ở nồng độ 1: 80 nồng độ 1 120 ức chế phế cầu khuẩn.
Cao nước đương quy có tác dụng ức chế sự ngưng tập tiểu cầu chuột cống trắng trong ống nghiệm cũng như khi tiêm tĩnh mạch cho chuột, và ức chế sự giải phóng serotonin từ tiểu cầu chuột cống gây bởi thrombin.

Hiệu quả của đương quy trong điều trị huyết khối não và viêm tắc tĩnh mạch huyết khối có thể có liên quan với tác dụng ức chế sự ngưng tác tiểu cầu và giải phóng scrotonin từ tiểu cầu.

Ứng dụng lâm sàng của Đương quy

Đương quy là một vị thuốc dùng rất phổ biến trong đông y, là đầu vị trong thuốc chữa bệnh phụ nữ, đồng thời được chỉ định trong nhiều đơn thuốc bổ và chữa bệnh như thuốc chữa thiếu máu xanh xao, đau đầu, cơ thể gầy yếu, suy tim, mệt mỏi, đau lưng, đau ngực bụng, viêm khớp, chân tay đau nhức lạnh, tê bại, tê liệt, đại tiện táo bón, mụn nhọt lở ngứa, tổn thương ở huyết, kinh nguyệt không đều, đau kinh, bế kinh (uống trước khi thấy kinh 7 ngày). Ngày uống 10 – 20g, dạng thuốc sắc hoặc rượu thuốc.

Trong y học cổ truyền Trung Quốc và Nhật Bản, đương quy được dùng điều trị kinh nguyệt không đều, huyết ứ trệ, đau kinh, bế kinh, sa tử cung, chảy máu, phong thấp, mụn nhọt, táo bón, hói đầu, thiếu máu, lao phổi. tăng huyết áp, ung thư và làm thuốc giảm đau, chống co giật, làm ra mồ hôi, kích thích ăn ngon cơm. Phụ nữ uống thuốc sắc đương quy vài ngày trước cho tới khi đẻ sẽ dễ đẻ, làm giảm đau khi đẻ.

Liều dùng, cách dùng Đương quy

Liều dùng 15g mỗi ngày

Bài thuốc từ Đương quy

Hải Thượng Lãn Ông đã ứng dụng những bài thuốc cổ phương có đương quy sau đây:

1. Chữa thiếu máu, cơ thể suy nhược, kinh nguyệt không đều, sau khi đẻ máu hôi chảy mãi không hết (Tứ vật thang)

a. Đương quy 16g, thục địa 12g, bạch thược 8g, xuyên khung 6g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.
b. Đương quy 20g, bạch thược 20g, thục địa 10g, xuyên khung 15g.
Đối với phụ nữ sau khi đẻ xong bị bệnh nhiều, có thể đăng bài Tử vật nói trên, thêm hắc can khương, đậu đen, trạch lan, ngưu tất, ích mẫu, bồ hoàng.

2. Chữa các chứng uất, ngoại cảm, phụ nữ can uất, nóng rét không khỏi (Bát vị tiêu giao tán): Đương quy, bạch truật, bạch thược, bạch linh, sài hồ, bạc hà, chích thảo, mỗi vị 4g. đơn bì 2,8g, chi tử 2,8g Sắc uống trong ngày.

3. Chữa phụ nữ rong kinh, rong huyết, có thai ra máu hoặc sảy thai ra máu không dứt (Giao ngải thang): Đương quy 12g, sinh địa 12g, bạch thược 16g, xuyên khung 8g, a giao 8g, cam thảo 8g, ngải diệp 8g, sắc uống.

4. Chữa huyết nhiệt, táo bón ( Nhuận táo thang): Đương quy, thục địa, đại hoàng, cam thảo, đào nhân, mỗi vị 4g, sinh địa 3g, thăng ma 3g, hồng hoa 1g. Sắc uống.

5. Chữa răng lợi, môi miệng sưng đau, chảy máu ( Thanh vị tán): Đương quy, sinh địa, mỗi vị 1,6g, thăng ma 2g, hoàng liên 1,2g, mẫu đơn 1,2g, thêm thạch cao nếu đau nhiều. Sắc uống.

Những lưu ý khi sử dụng Đương quy

Dùng cẩn thận trong trường hợp âm hư nội nhiệt, tiêu chảy
Phụ nữ mang thai sử dụng quá liều sẽ gây sảy thai, co bóp tử cung gây sinh non.
Phụ nữ đang cho con bú dùng đương quy sẽ khiến bé dễ mắc các bệnh về tiêu hóa, rối loạn đường ruột.
Người mắc bệnh về đường tiêu hóa, rối loạn về máu dùng đương quy khiến cho hệ tiêu hóa càng thêm rối loạn, gây dị ứng, mẩn ngứa.
Không sử dụng đương quy với thuốc chống đông máu, nếu kết hợp đương quy với các loại thuốc trên sẽ khiến kéo dài thời gian đông máu, gây nguy hại đến tính mạng người dùng.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Chỉ những khách hàng đã đăng nhập và mua sản phẩm này mới có thể đưa ra đánh giá.