Dứa dại

110.000

Mã: GKDD Danh mục: Từ khóa: , , ,

Mô tả

Dứa dại là một loài cây mọc hoang phổ biến ở nhiều nơi trên khắp nước ta. Trong dân gian dứa dại được dùng để trị bí tiểu, sỏi thận…

Mô tả dược liệu:

Tên khác: Dứa gai, Dứa gỗ, Mạy la ( Tày)
Tên khoa học: Pandanus tonkinensis Mart. ex B. Stone
Tên Tiếng Trung:
Thuộc họ: Dứa dại (Pandanaceae)

Cây nhỏ, phân nhánh ở ngọn, cao 2-4m, với rất nhiều rễ phụ trong không khí thòng xuống đất. Lá ở ngọn các nhánh, hình dải, dài 1-2m, trên gân chính và 2 bên mép có gai nhọn. 

Bông mo đực ở ngọn cây, thõng xuống, với những mo màu trắng, rời nhau. Hoa rất thơm, bông mo cái đơn độc, gồm rất nhiều lá noãn. Cụm quả tạo thành một khối hình trứng dài 16-22cm, có cuống màu da cam, gồm những quả hạch có góc, xẻ thành nhiều ô. 

Phân bố, sinh thái:

Loài phân bố rộng trên các bờ biển của Ấn Độ, Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào, Trung Quốc (Hồng Kông, Đài Loan), Nam quần đảo Ryukyu Malaysia, Micronesia và Philippin. 

Dứa dại thường phân bố trên các bãi ẩm có cát, trong các rú bụi ven biển, dọc bờ ngòi nước mặn; rừng ngập mặn, cũng phân bố trong đất liền, ở vĩ độ thấp, dọc theo các sông.

Ở nước ta Dứa dại cũng mọc khắp các tỉnh từ Hoà Bình, Quảng Ninh, Nam Hà tới Quảng Nam-Đà Nẵng, Khánh Hoà, Bình Thuận, Đồng Nai, Kiên Giang.

Thành phần hóa học:

Hạt phấn hoa và lá bắc rất thơm, khi chưng cất, người ta thu được nước thơm và hương liệu.

Các phần ngoài của hoa (lá bắc) chứa tinh dầu mà 70% là methyl ether của – phenylethyl alcohol. 

Hoa nở chứa 0,1-0,3% tinh dầu chứa benzyl benzoate, benzyl salicylate, benzyl acetate, benzyl alcohol, geraniol, linalool, linalyl acetate, bromostyren, guaiaco,l phenylethyl alcohol và aldehyd.

Tính vị – Quy kinh:

Dứa dại có vị ngọt và nhạt, tính mát

Vào các kinh tâm, phế, tiểu tràng, bàng quang

Bộ phận dùng

Rễ, quả, hạt và lá được sử dụng làm thuốc

Thu hái – Sơ chế:

Rễ thu hái quanh năm, thu các rễ chưa bám đất tốt hơn là rễ ở dưới đất, đem về thái mỏng, phơi hay sấy khô dùng dần. Quả thu hái vào mùa đông dùng tươi hay phơi khô.

Bảo quản

Sau khi phơi khô, bảo quản dược liệu ở nơi khô thoáng, tránh ẩm ướt

Tác dụng dược lý dứa dại

Tác dụng hạ đường huyết và hạ mỡ máu của chiết xuất ​​quả Dứa dại giàu caffeoylquinic acid đã được nghiên cứu. Thực nghiệm trên chuột mắc bệnh tiểu đường:

Điều trị làm giảm đáng kể trọng lượng cơ thể và mức đường huyết lúc đói.

Đồng thời tăng insulin máu và giảm diện tích glucose dưới đường cong trong xét nghiệm dung nạp glucose đường uống và xét nghiệm dung nạp insulin.

Quả Dứa dại có tác dụng chống xơ vữa động mạch và tăng cholesterol máu thông qua việc điều hòa thụ thể lipoprotein mật độ cao (HDL).

Một nghiên cứu khác dùng chiết xuất Dứa dại như một chất chống viêm tiềm năng có chứa các chất chuyển hóa thứ cấp.

Công năng

Dứa dại mới được dùng trong phạm vị dân gian, làm thuốc lợi tiểu, chữa phù thũng, đái buốt, đái dắt, đái ra sỏi.

Dùng ngoài giã đắp chữa gãy xương, lòi đom. Đọt non dứa dại chữa sỏi thận, kinh phong trẻ em.

Chủ trị

Rễ dùng trị Cảm mạo phát sốt;  Viêm thận, thuỷ thũng, nhiễm trùng đường tiết niệu;  Viêm gan, xơ gan cổ trướng; Viêm kết mạc mắt. Liều dùng 15-30g, dạng thuốc sắc. 

Quả trị lỵ và ho. Dùng 30-90g, dạng thuốc sắc.

Hạt dùng trị viêm tinh hoàn, trĩ. Dùng 30-60g, dạng thuốc sắc.

Kết quả nghiên cứu dược lý

Ứng dụng lâm sàng của Dứa dại

Dứa dại có tác dụng làm ra mồ hôi, giải nhiệt, tiêu viêm, lợi tiểu. 

Ở Ấn Độ, người ta còn dùng lá và tinh dầu từ lá bắc. Lá có vị đắng, cay, thơm, tinh dầu có tính kích thích, sát trùng. 

Ở Thái Lan, rễ được xem như hạ nhiệt, làm long đờm, lợi tiểu; còn cụm hoa đực là thuốc trợ tim.

Liều dùng, cách dùng Dứa dại

Liều dùng hàng ngày: Rễ 10- 15g, đọt non 15 – 20g. Dùng ngoài không giới hạn liều lượng.

Bài thuốc từ Dứa dại

  1. Chữa phù thũng:

(Kinh nghiệm của nhân dân miền Nam) Rễ dứa dại 8g (nướng), rễ cau non 4g, vỏ cây đại 8g (sao vàng), hương nhu 8g, tía tô 8g, hoắc hương 8g, hậu phác 12g, rễ si 8g. Tất cả thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 10ml uống làm 2 lần trong ngày. 

  1. Chữa gãy xương:

Rễ dứa dại, lá xoan non, ngải cứu, dây tơ hồng, vỏ cây gạo, củ nghệ. Mỗi thứ một nắm nhỏ. Giã nát trộn với lòng trắng trứng gà, đắp bó. 

  1. Chữa phù thân, đái dắt, đái ít, nước tiểu vàng đục :

Rễ dứa dại 400g, râu ngô 300g, trấu gạo nếp 100g (sao thơm), củ sả 100g. nõn tre 50g. cam thảo dây 20g. Tất cả nấu với 2 lít nước, cho sôi kỹ trong 30 phút, Lọc, bỏ bã, thêm đường. Người lớn mỗi lần uống  200 – 300ml, ngày 2 lần. Trẻ em mỗi lần 100 – 150ml.

Một đợt điều trị là 5 ngày. Nghỉ 3 ngày. tiếp tục đợt sau cho khỏi hẳn (Bệnh viện Ba Vì, tỉnh Hà Tây). 

  1. Chữa sỏi thận, đái dắt, đái buốt có máu :

Đọt non dứa dại 120g giã nhỏ với ngải cứu 20g, cỏ bợ 30g. phèn đen 10g. Thêm nước gạn uống. 

  1. Chữa tiêu vàng, nóng gắt; dùng rễ Dứa gỗ 15g, Rau Dừa nước 15g, Râu ngô 10g, vỏ Quít 5g. Đổ 500ml nước, sắc còn 150ml, ngày uống 1 thang (An Giang). 
  2. Thuốc bổ và dễ tiêu hoá cho phụ nữ thai sản; dùng rễ Dứa gỗ phối hợp với vỏ cây Chòi mòi, nấu nước uống. 
  3. Viêm thận phù thũng: dùng rễ Dứa gỗ 30-60g nấu với thịt ăn (Trung Quốc).
  4. Viêm tinh hoàn: dùng hạt Dứa gỗ, Tía tô, lá Hồng bì với lượng vừa đủ đun sôi rửa. 
  5. Sỏi thận: dùng hạt Dứa gỗ 10g, hạt Chuối hột 10g, Kim tiền thảo 15g, củ Cỏ ống 10g, sắc nước uống ngày 1 thang (An Giang). 

Nhân dân còn dùng rễ chùm của cây Dứa gỗ sao lên sắc uống trị chứng mất ngủ, nhức đầu.

Những lưu ý khi sử dụng Dứa dại

Lớp phấn trắng ở lá cây có chứa độc tố. Nếu không được bào chế đúng cách mà vẫn sử dụng trong một thời gian dài có thể gây ra ngộ độc, viêm thận.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Chỉ những khách hàng đã đăng nhập và mua sản phẩm này mới có thể đưa ra đánh giá.