Địa cốt bì

Liên hệ

Mã: GKDCB Danh mục: Từ khóa:

Mô tả

Địa cốt bì (vỏ rễ cây kỷ tử) là dược liệu có tính hàn, vị ngọt, vào kinh phế và thận. Địa cốt bì được sử dụng trong Đông y điều trị bệnh gì? Có lưu ý gì trong quá trình sử dụng địa cốt bì hay không? Hãy cùng dược liệu Gia Khương tìm hiểu mọi thứ về địa cốt bì qua bài viết dưới đây nhé!.

Thông tin về dược liệu Địa cốt bì

Tên Việt Nam: Khô kỷ, Khổ di, Kỷ căn, Khước thử, Địa tinh, Cẩu kế, Địa tiết, Địa tiên, Tiên trượng, Tiên nhân tượng, Khước lão căn, Tử kim bì, Địa cốt quan, Phục trần chiên, Tây vương mẫu trượng, Kim sơn gìa căn (Hòa Hán Dược Khảo), Tính cốt bì (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
Tên khoa học: Cortex lycci Sinensis.
Họ khoa học: Solanaceae. 
Tên tiếng Trung: 地骨皮 (Dì Gǔ Pí)

Địa cốt bì là vỏ rễ của cây Câu kỷ. Địa cốt bì có vỏ cuộn hình lòng máng hay hình ống, hoặc hai lần hình ống. Mặt ngoài màu vàng đất hay vàng nâu, có những đường nứt dọc ngang, có lớp bần dễ bong. Mặt trong màu trắng hay vàng xám có nhiều đường vân dọc, đôi khi còn sót một ít gỗ. Chất nhẹ, giòn, dễ bẻ. Mặt bẻ lởm chởm. Mặt cắt ngang, có lớp bần phía ngoài, libe phía trong màu trắng xám. Mùi thơm hơi hắc, vị lúc đầu hơi ngọt, sau hơi đắng. Loại phiến lớn không có lõi là tốt. Vỏ to dầy, sắc vàng lại có đốm trắng nhiều lõi là loại xấu. 

Phân bố, sinh thái

Thu hái – Sơ chế:

Thu hái vào trước đầu mùa xuân hoặc cuối mùa thu. Đào được rễ, rửa sạch, rút bỏ lõi. 

1- Sau khi cắt thành từng đoạn ngắn bằng nhau, sắc nước Cam thảo ngâm một đêm rồi vớt ra sấy khô (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Luận).

2- Chọn vỏ không còn lõi, rửa sạch, xắt nhỏ phơi khô dùng sống, có khi tẩm rượu sấy qua (Trung Dược Học).

Thành phần hóa học:

Trong địa cốt bì có Ancalioit, saponin, betaine, lyciumins A, B; kukoamine

Bộ phận dùng

Bộ phận dùng làm thuốc là vỏ rễ phơi hay sấy khô của cây Câu kỷ.

Bảo quản

Để nơi khô ráo, tránh ẩm ướt mối mọt.

Vị thuốc Địa cốt bì: 

Tính vị – Quy kinh:

Vị ngọt, Tính lạnh.

Vào kinh Phế, Can Thận, Tam tiêu.

Tác dụng:

Theo y học cổ truyền Địa cốt bì có tác dụng thanh nhiệt, lương huyết (chuyên chữa nóng trong xương), đồng thời có tác dụng sinh tân, chỉ khát.

Tác dụng dược lý:

Tác dụng hạ sốt: dạng chiết nước, chiết cồn từ địa cốt bì trên thỏ gây sốt thực nghiệm có tác dụng hạ sốt rõ rệt, còn dạng chiếc bàng ether không có tác dụng hạ sốt.

Tác dụng hạ đường huyết: Trên thỏ, nước sắc địa cốt bì bằng đường uống với liều 8g/kg, có tác dụng hạ đường huyết, tác dụng xuất hiện tối đa sau khi dùng thuốc 4-5 giờ, trung bình hạ 14% .

Tác dụng hạ cholesterol máu: Trên thỏ, cao lỏng địa cốt bị bằng đường uống làm giảm cholesterol toàn phần trong máu một cách rõ rệt, còn đối với triglycerid thì ảnh hưởng không lớn lắm. Chất betain có tác dụng bảo vệ gan chống nhiễm mỡ. 

Tác dụng hạ huyết áp: Trên chó, mèo, thỏ gây mê và trên chuột cống trắng không gây mê, nước sắc và cao lỏng địa cốt bì có tác dụng hạ huyết áp. Tác dụng hạ huyết áp ở mức độ trung bình, thời gian hạ áp ngắn.

Tác dụng hạ áp của địa cốt bì ngoài nguyên nhân ở trung ương thần kinh, còn liên quan đến sự phong bể các tận cùng thần kinh giao cảm,

Tác dụng kháng khuẩn: Nước sắc địa cốt bì có tác dụng ức chế rõ rệt các khuẩn gây bệnh đường ruột như Bacilus typhi, B.paratyphi, Shigella shigae. Sh.Flexneri, còn đối với Staphylococus aureus không có tác dụng. Ngoài ra nước sắc địa cốt bì còn có tác dụng ức chế virus cúm.

Độc tính Nước sắc địa cốt bì trên chuột nhắt trắng dùng qua đường dạ dày với liều 262,6g/kg súc vật vẫn không chết.

Chủ trị:

Địa cốt bì dùng trong những trường hợp hư hao triều nhiệt, ra mồ hôi trộm, ho hen, nôn ra máu, chảy máu mũi, đái ra máu, đái đường, cao huyết áp, mụn nhọt

Trị sốt về chiều do âm hư, sốt lâu ngày không lui. 

Liều dùng, cách dùng

Liều dùng: 9 – 15g, sắc nước uống hoặc dùng dạng hoàn tán.

Bài thuốc từ địa cốt bì

Chữa đái đường, uống nhiều, đi tiểu nhiều: Địa cốt bì, rễ thổ qua, rễ qua lâu, lỗ căn; mỗi vị 45g, mạch môn đông 60g, táo 7 quả. Mỗi lần 9g sắc nước uống lúc nóng.

Chữa âm hư triều nhiệt: Địa Cốt bì, ngân sài hồ, tri mẫu, bán hạ (ngâm rửa 10 lần), nhân sâm, cam thảo, xích phục linh. Tất cả với lượng bằng nhau, nghiền thành bột mỗi lần dùng 6g, cho thêm 5 lát gừng tươi, sắc nước uống sau bữa ăn.

Chữa thân thể gầy mòn, ôm lâu suy nhược: Địa cốt bì, trần bì, thần khúc, mỗi vị 10g nấu với thịt  cừu (hoặc dê) non 250g, gan cừu 250g ăn trong ngày

Làm mạnh gân cốt, bổ tinh tủy, sống lâu không già : dùng Câu kỷ (rễ), Sinh địa hoàng, Cam cúc hoa, mỗi thứ 1 cân đâm nhuyễn, lấy 1 chén nước lớn sắc lấy nước cốt, lấy nước này mà nấu xôi. Xôi chín xới ra để nguội rải đều cho men rượu vào đợi lên men cho chín cất thành rượu để lắng trong ngày uống 3 chén (Địa Cốt Tửu – Thánh Tế Tổng Lục). 

Trị hư lao, sốt hâm hấp: rễ Câu kỷ tán bột uống với nƣớc sôi, bệnh nhân mãn tính cố tật lâu ngày không nên dùng (Thiên Kim Phương).

Trị nóng nảy bức rức, nóng trong xương và các loại nóng nảy bứt rứt do hư lao, nóng nảy bứt rứt sau khi bệnh nặng : Địa cốt bì 2 lượng, Phòng phong 1 lượng, Cam thảo (chích) 5 chỉ. Mỗi lần dùng 5 chỉ sắc với 5 lát gừng tươi uống (Địa Tiên Tán – Tế Sinh Phƣong).

Trị chứng nhiệt lao người nóng như đốt, dùng Địa cốt bì 2 lượng, Sài hồ 1 lượng tán bột. Mỗi lần uống 2 chỉ với nước sắc Mạnh môn đông (Thánh Tế Tổng Lục). 

Đau thắt lưng do thận suy dùng Rễ câu tử, Đỗ trọng, Tỳ giải mỗi thứ 1 cân, ngâm với 3 đấu rượu ngon bịt kín, bỏ trong nồi nấu 1 ngày, khi thích thì uống (Thiên Kim Phương).

Nôn ra máu không dứt, dùng rễ Câu kỷ (vỏ) tán bột sắc uống hàng ngày (Thánh Tế Tổng Lục). 

Trị tiểu ra máu: Địa cốt bì mới rửa sạch, giã nát lấy nước, sắc, mỗi lần uống 1 chén, hoặc bỏ vào một tý rượu uống nóng trước khi ăn (Giản Tiện Phương).

Trị bạch đới, mạch chạy Sác, dùng 1 cân rễ Câu kỷ, Sinh địa hoàng 5 cân, 1 đấu rượu. Sắc còn 5 thang uống hằng ngày (Thiên Kim Phương). 

Dịch sưng đỏ, mắt sưng húp dùng Địa cốt bì 3 cân, 3 đấu nước sắc còn 3 thăng, bỏ bã, bỏ vào 1 lượng muối sắc còn 2 thăng đem rửa mắt ( Thiên Trúc Kinh Phương). 

Sâu nhức răng, dùng Rễ câu kỷ loại vỏ trắng sắc với dấm súc ngậm hoặc sắc với nước uống cũng được (Trửu hậu phương). 

Miệng lưỡi lở láy, dùng Địa cốt bì thang trị bàng quang di nhiệt xuống tiểu trường, ở trên làm cho miệng lở loét, tâm nhiệt vị uất, cơm nước ăn không xuống, dùng Sài hồ, Địa cốt bì mỗi thứ 3 chỉ, sắc uống (Đông viên phương). 

Trẻ con bị cam ăn ở tai, sau tai là do thận cam, dùng Địa cốt bì sắc lấy nước rửa, hoặc trộn với dầu Mè xức vào (Cao văn Hổ, Liêu châu nhàn lục phương). 

Ứng hiệu tán còn gọi là Thác lý tán, trị rò, cam sang, lâu năm không dứt, dùng Địa cốt bì mùa đông tán bột, mỗi lần dùng lấy giấy cuộn lại chấm thuốc bỏ vào lỗ rò hoặc nơi lở nhiều lần thì tự nhiên sinh thịt mới, rồi lại lấy thuốc bột này uống với nước cơm lần 2 chỉ, ngày uống 3 lần (Ngoại khoa tinh nghĩa phương).

Đàn ông bị dương vật sưng loét ngứa đầu, máu mủ cứ chảy nước bẩn ra. Trước hết lấy nước tương rửa sạch, sau đó lấy bột Địa cốt bì có tác dụng sinh cơ giảm đau (Vệ sinh bửu giám phương). 

Phụ nữ âm hộ lở láy, rễ Câu kỷ sắc rửa nhiều lần (Vĩnh loại kiềm phương). 

Lưu ý khi sử dụng địa cốt bì

Người chuyên thanh hư nhiệt hễ bị ngoại cảm phong hàn phát sốt thì cấm dùng. Tỳ Vị hư hàn cấm dùng

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Chỉ những khách hàng đã đăng nhập và mua sản phẩm này mới có thể đưa ra đánh giá.