Đại táo

Liên hệ

Mã: GKDT Danh mục: Từ khóa: , , ,

Mô tả

Đại táo là vị thuốc quen thuộc với nhiều người dân, nó có tác dụng bổ trung, ích khí, cường lực, trừ phiền muộn… Những bệnh nhân liên tục ăn táo tàu có thể hồi phục nhanh hơn gấp 3 lần so với những người chỉ đơn thuần uống vitamin. Chất adenosine monophosphate có trong táo đỏ là một thành phần thiết yếu của quá trình chuyển hóa năng lượng tế bào của con người . Nó có thể tăng cường sức mạnh cơ bắp, loại bỏ mệt mỏi, giãn nở mạch máu , tăng sức co bóp cơ tim , cải thiện dinh dưỡng cơ tim và có tác dụng tốt trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh tim mạch.

Mô tả dược liệu:

Tên khác: Táo tàu, táo đen, táo đỏ

Tên khoa học: Zizyphus jujuba Mill.
Tên Tiếng Trung: 大枣 (Dà Zǎo)
Thuộc họ: Thuộc họ Táo (Rhamnaceae).

Là cây vừa hoặc cao, có thể cao đến 10m. Lá mọc so le, lá kèm thường biến thành gai, cuống ngắn 0,5-1cm, phiến lá hình trứng dài 3-7cm, rộng 2-3,5cm, mép có răng cưa thô, trên mặt rõ 3 gân chính, gân phụ cũng nổi rõ. Hoa nhỏ, mọc thành tán ở kẽ lá, mỗi tán gồm 7-8 hoa. Cánh hoa màu vàng, xanh nhạt. Quả hình cầu hoặc hình trứng, khi còn xanh màu nâu nhạt hoặc xanh nhạt, khi chín màu đỏ sẫm. Mùa hoa tháng 4-5, mùa quả tháng 7-9.

Quả khô biểu hiện hình viên chùy, dài chừng 18mm – 32mm, thô chừng 15 – 18mm, bên ngoài có màu đỏ nâu hoặc nâu tím. Có trái có vết nhăn nheo rất sâu, cuối quả có lõm vào, có vết tồn tại của cuống quả hoặc vết sẹo hình tròn, chất mềm mà nhẹ, bên ngoài vỏ quả mỏng, nhăn rúm, chất thịt màu nâu nhạt, có dầu dẻo, hạt quả hai đầu nhọn dài chừng 9mm – 12mm, vỏ cứng, đập ra có nhân cứng màu trắng.

Phân bố, sinh thái

Đại táo hiện còn phải nhập của Trung Quốc. Hiện nay ở miền Bắc cây đã được đem trồng nhiều nơi, đang phát triển mạnh, phổ biến trồng bằng chiết cành vào mùa xuân, thông thường tháng 4 – 6 ra hoa, tháng 7 – 8 kết quả.

Thành phần hóa học:

Trong Táo Có Stepharine, N-Nornuciferine, Asmilobine (Irshad Khokhar, CA, 1979, 90: 83640r).

Betulonic acid, Oleanoic acid, Maslinic acid, Crategolic acid, 3-O-Trans-pCoumaroylmaslinic acid, 3-O-Cis-p-Coumaroylmaslinic acid (Akira Yagi, et al. Chem Pharm Bull 1978, 26 (10): 3075).

Betulinic acid, Alphitolic acid, 3-O-Trans-p-Coumaroylmaslinic acid, 3-O-Cis-pCoumaroylmaslinic acid (Akira Yagi et al. Pharm Bull 1978, 26 (6): 1798).

Zizyphus saponin, Jujuboside B (Okamura Nobuyuki, et al. Pharm Bull 1981, 29 (3): 676).

Rutin 3385mg/100g, Vitamin C 540-972mg/100g, Riboflovine, Thiamine, Carotene, Nicotinic acid (Trung Quốc Y Học Khoa Học Viện Vệ Sinh Nghiên Cứu Sở, Thực Vật Thành Phần Biểu, Quyển 3, Bắc Kinh Nhân Dân Vệ Sinh Xuất Bản 1983).

Lysine, Aspartic acid, Asparagine, Proline, Valine, Leucine (Baek K W, et al. CA

Olei acid, Sitosterol, Stigmasterol, Desmosterol (Al-Khtib, Izaldin M M et al. CA, 1988, 108: 166181h).

Vitamin A, B2, C, Calcium, Phosphor, Sắt (Trung Dược Học).

Tính vị – Quy kinh:

  • Vị ngọt tính bình (Bản Kinh).
  • Vị ngọt, cay, nóng, hoạt, không độc (Thiên Kim Phương – Thực trị).
  • Vị ngọt, tính ấm (Trung Dược Học).
  • Vào kinh Tỳ, phần huyết (Bản Thảo Cương Mục).
  • Vào kinh thủ Thiếu âm (Tâm), thủ Thái âm (Phế) (Bản Thảo Hối Ngôn).
  • Vào kinh Can, Tỳ, Thận (Dược Phẩm Hóa Nghĩa).

Vào kinh Tỵ, Vị (Bản Thảo Kinh Sơ).

Bộ phận dùng

  • Quả chín phơi khô (Fructus Zizyphi).

Thu hái – Sơ chế:

Thu hái vào mùa thu đông, khi quả chín hái về ăn hay phơi sấy khô làm thuốc. Quả Táo màu hồng gọi là Hồng táo. Ngoài việc thu hoạch để làm Hồng táo bón như trên, người ta còn thu hái quả táo khi chín vàng, phơi cho héo đến khi quả táo hơi nhăn, đem quay trong thùng có gai để châm lỗ, rồi lấy rễ con, thân lá cây Địa hoàng sắc cho Cô đặc với ít đường để ngào, rồi phơi lại cho đến khi không dính

Địa hoàng sắc cho cô đặc với ít đường để ngào, rồi phơi lại cho đến khi không dính tay thì đóng vào túi nilon. Loại chế như thế thì có màu đen, có vị ngọt hơn Hồng táo gọi là Hắc táo

Bỏ nguyên quả vào sắc với thuốc hoặc chưng nhừ, cạo lấy nạc, bỏ hạt trộn vào thuốc hoàn.

Bảo quản

Đại táo sau khi phơi khô đậy kín, tránh sâu bọ, chuột, gián.

Tác dụng dược lý Đại táo

Tác dụng tăng trọng: Cho chuột nhắt trắng uống nước sắc quả đại táo 3 tuần thấy thân trọng của chuột tăng nhiều hơn.

Tác dụng tăng lực: Dùng thí nghiệm chuột bơi thấy thời gian bơi của chuột ở lô dùng đại táo dài hơn so với lô đối chứng.

Tác dụng bảo vệ gan: Gây tổn thương gan thực nghiệm bằng carbon tetraclorid ở chuột nhắt trắng, đồng thời cho uống nước sắc quả đại táo, hàng ngày trong một tuần, Kết quà ở lô dùng đại táo, hàm lượng protein, albumin cao hơn so với lô đối chứng, chứng tỏ đại táo có tác dụng bảo vệ gan. 

Tác dụng trên AMP vòng đã xác định được trong đại táo có một hàm lượng nhất định SMP vòng. Ngoài ra, trong thực nghiệm cho chuột uống đại táo hoặc các bài thuốc bổ trong y học cổ truyền có khai thác, hàm lượng AMP vòng trong tế bào bạch cầu tăng hơn nhiều so với chuột đối chứng AMP vòng có vai trò rất quan trọng trong quá trình phosphoryl hoá và điều hoà sự chuyển đổi các protein trong tế bào 

Tác dụng đối kháng với serotonin vi histamin, do đó đại táo có tác dụng chống dị ứng

Công năng

An trung, dưỡng Tỳ, trợ 12 kinh, bình Vị khí, thông cửu khiếu, bổ thiểu khí, hòa bách dược (Bản Kinh).

Bổ trung, ích khí, cường lực, trừ phiền muộn (Danh Y Biệt Lục).

Giảm độc của vị Ô đầu (Bản Thảo Kinh Tập Chú).

Dưỡng huyết, bổ Can (Dược Phẩm Hóa Nghĩa).

Nhuận Tâm Phế, chỉ thấu (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).

Kiện Tỳ, bổ huyết, an thần, điều hòa các loại thuốc (Trung Dược Học).

Bổ Tỳ, hòa Vị, ích khí, sinh tân, điều doanh vệ, giải độc dược (Trung Quốc Đại Từ Điển).

Chủ trị

Trị Tỳ hư, ăn ít, tiêu lỏng, khí huyết tân dịch bất túc, doanh vệ không điều hòa,hồi hộp, phụ nữ tạng táo (Trung Quốc Đại Từ Điển).

Trị Tỳ vị hư nhược, hư tổn, suy nhược, kiết lỵ, vinh vệ bất hòa (Trung Dược Học).

Trị các chứng suy nhược, mệt mỏi, thiếu máu, hơi thở ngắn, biếng ăn, tiêu chảy

Thường được dùng trong các thang thuốc bổ để điều hòa các vị thuốc

Kết quả nghiên cứu dược lý

Cho chuột nhắt uống nước sắc Đại táo, thể trọng tăng rõ. Qua thử nghiệm bơi cho thấy có làm tăng cơ lực. Gây độc gan thỏ bằng Cachon tetrachloride và cho uống nước sắc Bắc Đại táo, Protid toàn phần và Albumin huyết thanh thỏ đều tăng rõ, chứng minh rằng Đại táo có tác dụng bảo vệ gan, tăng lực cơ và thể trọng (Trung Dược Học).

Thực nghiệm cũng chứng minh rằng những bài thuốc Có Táo đều làm cho chỉ số CAMP trong bạch cầu tăng cao. Táo có tác dụng chống dị ứng (Trung Dược Học).

Chiết xuất chất Táo với nước nóng in vitro có tác dụng ức chế tế bào JTC-26 sinh trưởng, hiệu suất đạt trên 90% và có liên quan đến liều lượng, nếu lượng nhỏ trưởng, hiệu suất đạt trên 90% và có liên quan đến liều lượng, nếu lượng nhỏ không có kết quả (Trung Dược Học).

Ứng dụng lâm sàng của Đại táo

Liều dùng, cách dùng Đại táo

Liều dùng: 3 quả – 10 quả.

Bài thuốc từ Đại táo

Trị táo bón: Đại táo 1 trái, bỏ hạt, trộn với 2g Khinh phấn, lấy giấy ướt gói lại, nướng chín, xong lấy nước sắc Đại táo uống (Trực Chỉ Phương).

Trị có thai đau bụng: Hồng đại táo 14 quả, đốt cháy, tán bột, uống với nước tiểu (Mai Sư Phương).

Trị Phế ung, mửa ra máu do ăn thức ăn cay nóng: Hồng táo để nguyên hạt, đốt tồn tính, Bách được tiễn, đốt qua, hai vị bằng nhau, tán bột, mỗi lần uống 8g với nước cơm (Tam Nhân Phương).

Trị điếc tai, nghẹt mũi, mất khứu giác và âm thanh: Đại táo 15 quả, bỏ vỏ và hạt, Tỳ ma tử 300 hạt, bỏ vỏ, giã nát, gói trong bóng, nhét vào lỗ tai, lỗ mũi, ngày 1 lần. Trước tiên cho vào tai, sau đó mới cho vào mũi, không nên cùng làm một lúc (Mạnh Sằn Bí Hiệu Phương).

Muốn thân thể không bị mùi xú uế, hàng ngày, dùng thịt Đại táo, Quế tâm, Bạch qua nhân, Tùng thụ bì, làm thành viên uống (Mạnh Sắn Bí Hiệu Phương).

Trị tẩu mã nha cam: Thịt Đại táo 1 trái, Hoàng bá. Tất cả đốt đen, tán bột, trộn dầu bôi vào. Có thể thêm 1 ít Tỳ sương càng tốt (Bác Tễ Phương).

Trị đau nhức tim đột ngột: Ô mai 1 trái, Táo 2 trái, Hạnh nhân 7 hạt. Tán nhuyễn. Đàn ông uống với rượu, đàn bà uống với dấm (Hải Thượng Phương).

Trị buồn bực, khó ngủ: Đại táo 14 quả, Long nhãn 210g, nấu chín uống và ăn (Kinh Nghiệm Phương).

Trị suy nhược, khó ngủ: Long nhãn 40g, Mạch môn 40g, Ngưu tất, Đỗ trọng, mỗi thứ 20g, Đương quy 40g, Xuyên khung 20g. Ngâm một lít rượu uống trước khi ngủ.

Trị chứng Tạng táo (hysteria) của đàn bà: buồn thương tủi khóc như bị thần linh quả phạt, hay ngáp: dùng 10 quả Đại táo, 1 thằng Tiểu mạch, 60g Cam thảo. Sắc uống để bổ Tỳ khí (Đại Táo Thang – Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Trị tiêu chảy lâu ngày, bụng đầy, hư hàn: Phá cố chỉ, Nhục đậu khấu. mỗi thứ 12g, Mộc hương 6g, tán bột, trộn với Táo nhục làm thành viên, ngày uống 3 lần, mỗi lần 12g. Uống với nước Gừng (Táo Nhục Hoàn – Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

Trị chứng tiểu cầu giảm: Đại táo 40g, Bạc hà diệp 20g. Sắc uống (Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học).

Trị xuất huyết dưới da do dị ứng; Đại táo 320g, Cam thảo 40g, sắc uống (Hiện

Những lưu ý khi sử dụng Đại táo

Trái xanh ăn không tốt, không nên ăn nhiều. Ăn táo với hành làm ngũ tạng bất hòa, ăn với cá làm đau bụng, đau thắt lưng (Danh Y Biệt Lục).

 Ăn nhiều trái Táo chưa chín sẽ bị nhiệt khát, khí trướng (Thiên Kim Phượng – Thực Trị).

Vùng dưới ngực có bỉ khối, đầy trướng, nôn mửa: không dùng (Y Học Nhập Môn).

Trẻ nhỏ bị cam tích, bụng đầy trướng, đờm nhiệt, răng đau: Cấm dùng (Bản Thảo Kinh Sơ).

Dạ dày đau do khí bế, trẻ nhỏ bị nhiệt cam, bụng to, đau bụng do giun: không dùng (Bản Thảo Hối Ngôn).

Đang uống Nguyên sâm, Bạch vi, không được dùng Đại táo (Bản Thảo Tỉnh Thường).

Trẻ nhỏ, sản hậu, sau khi bị bệnh ôn nhiệt, thử thấp, hoàng đản, cam tích, đờm

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Chỉ những khách hàng đã đăng nhập và mua sản phẩm này mới có thể đưa ra đánh giá.