Củ gai

180.000

Mô tả

Củ gai là phần rễ của cây gai, thường được sử dụng để làm thuốc chữa bệnh trong đông y với tác dụng thanh nhiệt, tán ứ, lợi tiểu. Củ gai được biết đến là như một “thần dược” giúp các bà bầu điều trị động thai, dọa sảy, bong tách rau thai,.. vô cùng hiệu quả. Hãy cùng Dược liệu Gia Khương tìm hiểu về tác dụng và các bài thuốc từ củ gai nhé. 

Mô tả dược liệu:

Tên khác (nếu có): Gai tuyết, gai làm bánh (Kinh), trữ ma, bảu pin (Tày). cọ pin (Thái), chiếu đủ (Dao). Rễ củ gai thường gọi là trừ ma cần
Tên khoa học: Boehmeria nivea.
Tên Tiếng Trung: 苎麻根
Họ: Gai (Urticaceae)

Cây nhỏ, Cao 1- 2m. Thân cứng hoá gỗ ở gốc, Cành màu đỏ nhạt, phủ nhiều lông sát. Lá mọc so le, hình trái xoan hoặc hình trứng, gốc tròn hay hình tim, đầu thuôn nhọn, dài 7- 15cm, rộng 4 – 8cm, lúc non phủ nhiều lông mềm ở cả hai mặt, lúc già thì mặt trên nhẵn màu lục sẫm, mặt dưới lông trở thành tràng bạc. Mép có răng hình tam giác, gần gốc 3, cuống lá mảnh, màu đỏ, có lông mềm, lá kèm hình dài nhọn, dễ rụng.

Cụm hoa cùng gốc hay khác gốc, ngắn hơn lá, mọc ở kẽ lá, xếp thành chuỳ đơn ở hoa cái hay hợp lại với nhau ở hoa cái và hoa đực, có khi tạo thành những túm dày đặc, cụm hoa đực nhiều hoa, nụ hình cầu có lông lởm chởm, lá đài 4, nhị 4, nhuỵ lép có dạng quả lê; cụm hoa cái hình cầu, mang nhiều hoa, bao hoa màu lục nhạt, hình trứng có lông, bầu giep, hình trái xoan, hơi có cánh.

Quả bó, hình quà lễ, có nhiều lồng, hạt có dầu. 

Rễ khô hình trụ không đều hoặc hơi thuôn, hơi cong, dài 6-10cm, đường kính 1-2 cm, mặt ngoài nâu sẫm, có những nếp nhăn dọc và sẹo của rễ con, dễ bẻ, vết bỏ màu vàng có xơ, không mùi, vị nhat.

Mùa hoa quả tháng 11 – 1

Phân bố, sinh thái

Chi Boehmeria Jacq gồm 75 loài, phân bố rải rác khắp các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Bắc bán cầu. Ở châu Á có 15 loài, trong đó Việt Nam có khoảng 10 loài. Gai là cây trồng tương đối phổ biến trong nhân dân để lấy lá làm bánh và rễ củ làm thuốc. Gai còn phân bố ở nhiều nước khác như Ấn Độ, Thái Lan, Lào , Trung Quốc, Campuchia và Nhật Bản.

Gai thuộc loại cây ưa ẩm và có thể hơi chịu bóng. sinh trưởng phát triển nhanh trong mùa mưa ẩm, đến mùa đông có hiện tượng rụng lá, hơi tàn lụi. Cây ra hoa hàng năm. Chưa quan sát được cây con mọc từ hạt, song, gai lại có khả năng tái sinh vô tính khỏe bằng cách tái sinh cây chồi sau khi chặt và từ các đoạn thân, cành đem giâm xuống đất,

Thành phần hóa học:

Rễ gai chứa acid clorogenic, acid prolocatechic, acid cafeic, acid quinic, rhoifolin 0,7%, apigenin Rhoifolin khi thuỷ phân cho apigenin, glucose, rhamnose

Ngoài ra, còn chứa β- sitosterol, daucosterol và acid 19α hydroxy ursolic (CA. 126. 1997, 291739). các polysaccharid thành phần chủ yếu gồm D galactose, L. rhamnose, D    arabinose, D mannose, và D galacturonic Me – ester.

Bên cạnh polysaccharid, còn có một số oligo • saccharid và monosaccharid, phần đường khi thủy phân tương tự như của polysacchaird.

Các pectin với thành phần chủ yếu là acid D galacturonic và dẫn chất mentyl ester của chúng, cùng với các đường L rhamnose, D galactose, L arabinose, I. fucose, D glucose, D nanose và D xylose, các hemicellulose với thành phần chính là glucomannan. (CA. 117, 1992, 51066 1).

Tính vị Quy kinh:

Rễ gai có vị ngọt, tính hàn, không độc, 

Lá gai cũng có vị ngọt, tính hàn,

Vào Gan; Tim, Kênh bàng quang 

Bộ phận dùng

Bộ phận sử dụng làm thuốc là rễ, ngoài ra lá cũng được sử dụng.

Thu hái – Sơ chế:

Rễ thu hái quanh năm, tốt nhất là vào mùa hạ hay mùa thu, Đào rể rửa sạch đất cát, cắt bỏ rễ con, để nguyên bay thái phiến, dùng tươi hay phơi, sấy khô. 

Bảo quản

Sau khi sấy khô bảo quản ở nơi thoáng mát, tránh ẩm ướt

Tác dụng dược lý của củ gai. 

Axit caffeic được sản xuất từ ​​axit chlorogenic, một thành phần của rễ cây gai, có tác dụng cầm máu rõ rệt. Nó cũng có tác dụng ức chế Staphylococcus aureus .

Dịch chiết bằng cồn từ cây gai trên ống nghiệm có tác dụng thúc đẩy quá trình đông máu, trên thí nghiệm cắt đuổi chuột nhắt để xác định thời gian chảy máu, thuốc có tác dụng cầm máu. Trong thí nghiệm lấy máu từ tĩnh mạch sau hố mắt trên chuột nhắt trắng, dạng thuốc trên với liều 0,3ml bằng đường tiêm phúc mạc hoặc với liều 0,5ml bằng đường uống có tác dụng rút ngắn thời gian đông máu Trên những chó thí nghiệm gây xuất huyết dưới da bằng cách dùng chất cobalt de chiếu xạ thì dạng chế phẩm trên của gái có tác dụng làm giảm hiện tượng xuất huyết một cách rõ rệt.

Acid clorogenic có trong dược liệu là một chất ít độc, có tác dụng tăng cường hiệu lực của adrenalin, thông tiểu tiện, kích thích sự bài tiết mật (cholérétique) và có khả năng ức chế tác dụng của pepsin và trypsin. Acid clorogenic còn có tác dụng diệt nấm và kháng khuẩn.

Muối ammonium của acid cafeic được phân giải từ acid clorogenic, trên thỏ thí nghiệm tiêm tĩnh mạch với liều lượng 7mg/kg có tác dụng rút ngắn thời gian đông máu 58%, rút ngắn thời gian máu chảy 52%, Trên chuột nhắt trắng đã dùng cobalt để chiếu xạ, dùng acid cafeic tiêm xoang bụng với liều lượng 14mg/kg, tiêm liên tục trong 2 tuần lễ thì số lượng bạch cầu tăng 76,4% và số lượng tiểu cầu tăng 45,6% Với nồng độ pha loãng 1: 128 trên ống nghiệm, thuốc có tác dụng ức chế tụ cầu khuẩn vàng.

Về độc tính cấp trên chuột nhắt trắng bằng tiêm phúc mạc, thuốc có LD50 = 1583 mg/kg. về độc tính bán man trên thỏ thí nghiệm với liều 14mg/kg tiêm liên tục  trong 10 ngày qua kiểm tra thấy các cơ quan tim, gan, thận về mặt công năng và tổ chức học không có biểu hiện gì về biến đổi bệnh lý.

Công năng

Củ gai có tác dụng an thai, chỉ huyết (cầm máu), lương huyết (làm mát máu), tán ứ, lợi tiểu.

Công dụng:

Rễ gai được dùng làm thuốc chữa động thai, chảy máu, dọa sẩy, đái đục, đái ra máu, sưng tấy. 

Chủ trị

Chữa Cảm cúm, sốt, sởi bị sốt cao;

Nhiễm trùng tiết niệu, viêm thận phù thũng;

Ho ra máu, đái ra máu, trĩ chảy máu;

Rong kinh động thai đe doạ sẩy thai.

Kết quả nghiên cứu dược lý

Ứng dụng lâm sàng của củ gai

Bột rễ gai (“Shengji Zonglu”) chữa nôn ra máu: Rễ gai, nhân sâm, phấn hoa, bột ngao mỗi vị 10g. 4 vị trên, giã nhỏ Lục lạc, mỗi thứ 2g, chỉnh nước gạo nếp uống, tùy thời. Rễ gai trong đơn thuốc là một vị thuốc quý để cầm máu.

(“Phúc Kiến Trung Quốc dược thảo”) Chữa sót thai: Rễ gai khô 30g, hạt sen và khoai mỡ mỗi thứ 15g. Thuốc sắc trong nước. Trong đơn thuốc, rễ cây gai là vị thuốc quý chống động thai.

(“Đơn thuốc của Meishiji”) Chữa động thai, động thai, đột ngột ra nước vàng như keo hoặc nước đậu nhỏ, đau bụng không chịu được; rễ cây gai (bỏ vỏ đen, thái chỉ) 15g, bạc hà 1 miếng, nước 9 lít, đun sôi. 4 lít. Mỗi phần lấy 1 lít nước, rượu 0,5 lít, sắc còn 1 lít cho 2 phần (một bên không dùng bạc). Trong đơn thuốc, rễ gai là vị thuốc an thai, thanh nhiệt, là vị thuốc quý.  

Liều dùng, cách dùng củ gai

Dùng đường uống: thuốc sắc, 5-30g; hoặc nước cốt xay. 

Dùng ngoài: lượng thích hợp, chế phẩm tươi giã nhỏ đắp hoặc sắc, xông, rửa. 

Bài thuốc từ củ gai

Trong trường hợp dùng làm thuốc an thai, thường phối hợp với các vị thuốc khác theo những công thức sau: Rễ gai 8g, mầm cây mía 10g, ích mẫu 6g, hương phụ 4g, sa nhân 4g. Tất cả phơi khô, thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống một lần trong ngày .

Rễ gai 8g, cành tía tô 8g, ngải cứu hoặc cam thảo dây 4g. Sắc nước uống. Nếu thấy ra máu, thêm huyết dụ 10g.

Rễ gai 20g, hoài sơn 20g, thục địa 20g, cành tía tô 12g, tục đoạn 12g, ngải cứu 12g, chỉ xác 8g, sa nhân 6g Sắc nước uống, chia làm 2 lần trong ngày. 

Rễ gai 30g, bồ công anh, quả kim anh, lõi cây móc, mỗi vị 12g, sắc nước uống, chữa sa tử cung, tử cung viêm sưng

Ngoài ra, rễ gai giã nát với rễ Vông vang đắp làm cho mụn nhọt chống mưng mủ. Rễ gai sắc uống với rễ cỏ lào, rễ tía tô, rễ đu đủ (liều lượng bằng nhau) chữa kiết lỵ, tiêu chảy.

Ở Trung Quốc, rễ gai với nhân sâm, hay phần, lượng mỗi thứ bằng nhau, nghiền thành bột, mỗi lần uống 2g với cháo gạo, chữa nôn ra máu. Trong xuất huyết đường tiêu hoá, người ta dùng rẻ gai chế thành dạng cao lỏng (200%), mỗi ngày uống 60 – 90ml, chia làm 3 lần.

Những lưu ý khi sử dụng củ gai

Những người không có thực nhiệt nên thận trọng khi sử dụng củ gai.

Người bụng yếu, tiêu chảy không nên dùng, cũng không thích hợp cho bệnh nhân mắc các bệnh không do huyết nhiệt. 

Lời khuyên

Tác dụng của củ gai tuy lành tính, có nhiều công dụng tốt nhưng khi dùng cần cẩn trọng. Trong trường hợp không phải bệnh do thực nhiệt thì không nên dùng dược liệu này. Tác dụng phụ của củ gai có thể gây ngứa nếu dùng tươi nhưng khi được chế biến chín hoặc sắc nước uống thì sẽ không gây ngứa.

Củ gai không độc nhưng lại có tính hàn. Vì vậy không nên dùng dược liệu này đối với trường hợp hư hàn hoặc sử dụng trong thời gian dài. Các mẹ bầu muốn dùng củ gai an thai hay dưỡng huyết cũng cần cẩn trọng, lưu ý dùng đúng liều lượng để tránh gặp tình trạng phản tác dụng.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Chỉ những khách hàng đã đăng nhập và mua sản phẩm này mới có thể đưa ra đánh giá.