Giảm giá!

Cỏ Xước

100.000

Mã: GKCX Danh mục: Từ khóa: ,

Mô tả

Cây cỏ xước là cỏ mọc hoang, vị thuốc quý có nhiều tác dụng tuyệt vời cho sức khỏe. Từ xa xưa, nó được sử dụng nhiều trong các bài thuốc dân gian chữa đau xương khớp, thoái hóa khớp, bệnh gout, chữa sỏi thận, tiểu đường và giúp ổn định huyết áp.

Tìm hiểu về Cây Cỏ xước

Tên khác: Ngưu tất nam, nhả khoanh ngù, hà ngù
Tên khoa học: Achyranthes aspera
Thuộc họ: Rau dền

Mô tả:

Cỏ xước là Cây thảo, cao gần 1m, có lông mềm nhiều hay ít. Thân cứng phình lên ở những mấu. Lá mọc đối, hình trứng hay mũi mác, nhẵn hoặc hơi có lông. gốc thuôn, đầu tù hoặc nhọn, dài 3: 12 cm, mép lượn sóng, cuống lá dài.

Cụm hoa mọc thành bông đơn ở ngọn thân, dài 20 – 30cm, lá bắc con hình gai, hoa mọc rủ xuống áp sát vào cuống cụm hoa, dài gồm 5 phiến hình mũi mác nhọn, những phiến phía trong rất nhỏ, nhị 5, nhị lép có nhiều tua viền ở đầu, bầu hình trụ.

Quả nang có lá bắc còn lại, nhọn thành gai dễ mắc vào quần khi đụng phải; vỏ rất mỏng dính vào hạt, hạt hình trứng dài, dày.

Rễ nhỏ cong queo, thuôn dần về phía chóp, dài 10 – 15cm, đường kính 0,2 – 0,5cm. Mặt ngoài màu nâu nhạt, nhẵn, đôi khi hơi nhăn, có vết sần của rễ con hoặc lẫn cả rể con. 

Mùa hoa quả: tháng 7- 12

Phân bố, sinh thái

Achyranthes L. là một chi nhỏ trong họ Amaranthaceae. Ở Việt Nam, ước tính có tới 4 loài. trong đó có cỏ xước.

Trên thế giới, cỏ xước là cây của vùng nhiệt đới. Ở châu Á, cây phân bố ở Lào, Campuchia, Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc và một số nước khác. Ở Việt Nam, cỏ xước phân bố rải rác ở hầu hết các tỉnh vùng đồng bằng. Trung du và một số tỉnh vùng núi thấp dưới 1000m

Cỏ xước ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng. thường mọc ở nơi Jất âm ven đường đi, quanh vườn và bãi hoang. Đôi khi còn gặp ở vùng nương rẫy và ven đồi, Cây mọc từ hạt vào cuối mùa xuân. Sinh trưởng nhanh trong mùa hè, sau đó có hoa quả. Quả có lá bắc tồn tại, nhờ gió phát tán đi khắp nơi. Nhìn chung, sau khỉ có hoa quả, cỏ xước thường tàn lụi vào mùa đông. Song, cá biệt có những cây mọc nơi bị che bóng hoặc mọc muộn chưa kịp ra hoa quả trong năm, có thể tồn tại qua đông và trở thành cây sống nhiều năm.

Thu hái – Sơ chế:

Cây cỏ xước được thu hoạch quanh năm. Cả cây được đem về rửa sạch, cắt riêng phần rễ, thân, lá, thái mỏng rồi đem phơi hoặc sấy khô. 

Trường hợp chỉ thu hoạch rễ, vụ thu hoạch chủ yếu là vào mùa đông. Lúc này thân và lá đang héo khô và rễ đã phình to.

Thành phần hóa học:

Rễ cỏ xước chứa saponin trong đó phần aglycon được nhận dạng là acid oleanolic: phần đường là glucose, galactose và rhamnose (Phạm Kim Mãn và cs, 1978). Li Xianduan và cs 1995 đã chứng minh hàm lượng acid olcanolic là 0,054%

Mười saponin triterpen đã được chiết xuất từ rễ cỏ xước và nhân dạng là dimethyl ester của 28 – desgluco. sylprosapogenin của chikusetsusaponin – IVa, prosapogenjn của chikusetsu saponin IVa, methyl ester của chikuscisusaint IV-, methyl ester của chikusetsu saponin IV-a, methyl ester của chikusetsu Saxonin V, methyl ester của achyrannosid B, một saponin có trong Pisonia umbellifera, chikusetsu saponin IV, methyl ester của achyrantosa A, cthyl ester của achyrannosid c và chikusotsusaponin A. (Kazyo Yamasaki và cs, 1999. Vo Duy Huấn và cs 1999, T.C Dược liệu 1999, 4 (2) 52.)

Chồi chứa 36,47 dihydroxy hen pentacon tan: 4 – on, tritriacontanol (Misra Triguna N, và cs, 1991), 27 • cyclohexyl heptacosane – 7 – ol, 16 – hydroxy – 26 – nethylhentacosan : 2 – on (Misra Triguna N, và cs, 1993). 4 – mcthylheptatriacont – 1 -en – 10.ol, teacontanol – 2 và B – sitosterol (Misra TN và cs, CA. 125, 1996, 5473r).

Thân chứa pentatriacontan, 6 – pentatriacontanon, hexatriacontan. Irinaconan (Ali Mohanime và cs, 1993)

Hạt chứa hentriacontan, 10 : Cac Kanon, 10 . triacocosanon, 4 traconazon (Ali Mohammed và cs, CA. 120, 1994, 265781h).

Bộ phận dùng

Bộ phần dùng làm thuốc: Rễ đã phơi khô hoặc sấy khô của cây cỏ xước. 

Bảo quản

Sau khi phơi sấy khô, cần bảo quản cỏ xước ở nơi khô ráo, tránh ẩm ướt hoặc gần nguồn nước.

Vị thuốc cỏ xước: 

Tính vị:

 Cỏ xước có vị đắng, chua, tính bình.

Quy kinh:

 Vào 2 kinh can, và thận

Tác dụng:

Trong y học cổ truyền Cỏ xước có tác dụng thanh nhiệt, giải biểu, khu phong trừ thấp, hoạt huyết mạnh gân, lợi thủy thông tâm

Tác dụng dược lý

Cỏ xước có tác dụng chống viêm và gây thu teo tuyến ức, kích thích co bóp tử cung và có tác dụng Estrogen yếu. Nó có độc tính thấp và không gây những tác dụng không mong muốn về chức năng gan, thận trong áp dụng điều trị dài ngày.

Cao cồn cỏ xước ức chế sự phát triển in vitro của những vi khuẩn Staphylococcus aureus, Streptococcus haemolyticus, Bacillus diphtheriae, Bacillus subuh, Escherichia coli và của vị nám Aspergillus terreus, Nó có tác dụng hạ đường máu, gây đái tháo đường với alloxan.

Những saponin chiết xuất từ rễ cỏ xước gây co cơ thẳng bụng, tác dụng này không bị ức chế bởi curar, và có tác dụng làm giảm huyết áp và nhịp tim, gây giãn mạch và tăng hô hấp. Thuốc có tác dụng lợi tiểu và gây tiêu chảy sau khi cho uống liều cao và cũng có tác dụng hạ sốt.

Saponin chiết xuất từ hạt cỏ xước có tác dụng trợ tim, bài thuốc gồm cỏ xước và đậu xanh có tác dụng kìm hãm ký sinh trùng, nhưng gây tiêu chảy.

Cao chiết với benzen của vỏ thân cỏ xước với liều 50 mg/kg từ ngày 1- 6 đã gây sảy thai 100%. Cao chiết với n. butanol với liều 75mg/kg. từ ngày 1- 5, đã ngăn cản sự làm tổ của trứng đã thụ tinh trong thời kỳ đầu mang thai và có hoạt tính kháng Oestrogen, Cây cỏ xước mới thu hái, phơi khô và tán bột được dùng để xông phòng có tác dụng tẩy uế mạnh.

Đã thử nghiệm trên lâm sàng bài thuốc chữa sỏi niệu quản gồm 7 dược liệu trong có cỏ xước phối hợp với châm cứu cho 89 bệnh nhân, đạt kết quả tốt: 57,3%, đỡ 16,8%, và không kết quả: 25,9%.

Chủ trị:

Ứng dụng lâm sàng của cỏ xước

Cỏ xước được dùng chữa cảm mạo phát sốt, phong thấp tê mỏi yếu liệt, đau lưng, nhức xương, viêm khớp, sưng gối, kinh nguyệt không đều, ứ huyết trong tử cung, hàn thấp, chân tay co quắp, tiểu tiện không lợi, đái rắt, đái buốt, sốt rét. Còn được dùng để trục thai chết.

Dùng ngoài, cỏ xước trị lở ngứa, viêm miệng Dịch ép lá cỏ xước tươi chữa được bệnh lỵ.

Trong y học cổ truyền Trung Quốc, cỏ xước dược dùng điều trị nhức đầu, cảm nắng, sốt rét, sỏi niệu, viêm thận mạn tính.

Y học cổ truyền Ấn Độ lại dùng nước sắc cỏ xước làm thuốc lợi tiểu và trị xơ gan. Bột nhão làm từ hoa hoặc hạt cỏ xước tán bột được đắp tại chỗ trị sâu bọ độc cắn. Bệnh nhân hen hút khói do đốt lá khô cỏ xước có thể hết cơn hen phế quản.

Dùng bột nhão từ lá tươi cỏ xước giã đắp lên chỗ bị áp xe, mỗi ngày 2 lần trong 3 ngày để làm hết mủ. 

Để trị gãy xương, toàn cây cỏ xước được làm thành bột nhão và đắp lại chỗ sau khi dã nắn lại xương gãy và bó với bằng vải. và hàng ngày, đắp bột thảo mới bào chế. Đồng thời, trộn 10g bột nhão cỏ xước trong 20g bơ lỏng với bột của 78 hạt hồ liệu và cho uống, mỗi ngày một lần trong 1 tháng, để thúc đẩy nhanh quá trình lành. Sau khi đắp bột nhão cỏ xước, thấm nước ấm có hòa tan muối lên trên chỗ đắp trong 15 phút, và xoa bóp nhẹ với sữa cừu mỗi ngày 2 lần, trong 2 – 4 tuần.

 Để chữa sốt cơn, uống 10g bột nhão lá cỏ xước với 300g sữa đông tươi, Tuổi ngày một lần trong 5 ngày. 

Chữa đái chậm và đau bằng cách đắp bột nhão cỏ xước lên bụng bệnh nhân để làm giảm đau, bột nhão rễ cỏ xước mới pha chế thị Viêm Amidan cho trẻ em, đắp ngoài ngày 2 lần, trong 4- 5 ngày.

Nhân dân Ấn Độ còn uống dịch ép toàn cây hoặc bột rễ cỏ xước phơi khô trong râm, ngày 10 – 20g để trị rắn độc cắn. Có thể uống rễ cỏ xước 5g, Bột hồ tiêu 5g chia làm 3 lần uống trong ngày chữa tiêu chảy và lỵ

Để điều trị giai đoạn đầu của bệnh hen, uống bột lá khô cỏ xước với mật ong vào buổi sáng. Cũng dùng lá tươi giã nát thành bột nhão và trộn với hạt tiêu và hành tây làm thành viên hoàn, uống trong 20 – 30 ngày. Thường uống thuốc vào mùa đông. Nhai lá cỏ xước tươi với mấy hạt bạch hồ tiêu, và đắp Một nhão này để chữa vết đốt do bọ cạp.

Ở Nepal, nhân dân uống nước sắc lá cỏ xước trị sốt, và uống bột rễ cỏ xước trộn với bột hạt tiêu trị lỵ ra máu 8 trị khó tiêu, uống dịch ép rễ tươi hoặc nước hãm rễ khô cỏ xước Chữa chảy dịch tai, bằng cách nhỏ 1-2 giọt dịch ép lá cỏ xước vào tai, ngày 2 lần trong 1 – 2 ngày. 

Để gây ngừa thai, phụ nữ sau khi hành kinh uống một cách đều đặn mỗi ngày 10g rễ cỏ xước dưới dạng nước sắc ấm. Cỏ xước còn được dùng  làm thuốc nhuận tràng, chữa trị, mụn nhọt, ban, đau bụng và rắn cắn.

Ở Ai Cập, theo kinh nghiệm dân gian, một bài thuốc gồm lá cỏ xước, lá chua me đất hoa vàng và 2 được liệu khác đã được áp dụng để gây sảy thai.

Liều dùng, cách dùng

Ngày dùng 12 – 40g phối hợp với các vị thuốc khác dưới dạng thuốc sắc.

Bài thuốc từ cỏ xước

Chữa thấp khớp:

Bài 1: Rễ cỏ xước 40g, hy thiêm 28g, thổ phục linh 20g, cỏ nhọ nồi 16g, ngải cứu 12g, thương nhĩ tử 12g. Sao vàng.Sắc đặc ngày uống 1 thang, uống 7- 10 ngày liền.

Bài 2: Rễ cỏ xước, vòi voi, kim ngân, thổ phục linh, hy thiêm, ké đầu ngựa, thiên niên kiện, cây xấu hổ, dây đau xương, cây cà gai (lượng bằng nhau), chế thành cao và rượu thuốc,

Bài 3: Rễ cỏ xước 16g, hoàng bá 12g, thương truật 12g. Sắc và chia 2 lần uống trong ngày. 

Chữa kinh nguyệt không đều, huyết ứ: Rễ cỏ xước 20g: củ gấu (tứ chế), ích mẫu, nghé xanh, mỗii vị 10g: lá mần tưới, tô mộc, chỉ xác, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày 1 thang (3 – 5 thang mỗi tháng). 

Chữa đau nhức các khớp không nóng đỏ (Triệu chứng: các khớp nhức mỏi, đau một chỗ, tê bì, đau các cơ, vận động khó, miệng nhạt, rêu lưỡi trắng dính): Rễ cỏ xước 12g, ý dĩ 10g, tỳ giải 16g: ngũ gia bì, xuyên khung, đan sâm, mỗi vị 12g, rễ cây lá lốt 8g. quế chi 6g, bạch chỉ 6g. Sắc uống ngày 1 thang. 

Chữa phụ nữ bí đái, hay ngọc hành trẻ em bị đau buốt khi đi tiểu: Cỏ xước 16 – 24g sắc uống. (Nam dược thần hiệu). 

Chữa phù thũng hay vàng da: Rễ cỏ xước, rễ cỏ tranh, bông mã đề, dây khố rách (mộc thông), mỗi vị 25g sắc uống (Sách trên). 

Chữa sốt rét: Lá cỏ xước một nắm to sắc uống (sách trên) 

Chữa viêm miệng: Rễ cỏ xước, tẩm cồn, nhai và ngâm hoặc sắc, ngậm và uống nước sắc.

Chữa thiểu năng sinh lý liệt dương, trẻ em còi xương suy nhược: Rễ cỏ xước, nhục quế, vòi voi, quế vị 80g, xương hổ 100g, câu kỷ tử 10g, rể có tranh 4g. đỗ trọng 10g. Ngâm với 4 lít rượu trong 7 ngày. Mỗi lần uống 30ml, ngày uống 2 lần vào bữa ăn. 

Chữa tăng huyết áp: Rễ cỏ xước, cỏ nhọ nồi, mỗi vị 10g, ly bạc hà 100g, màng và 9 cái, nước vo gạo 300 ml. Rửa sạch giã nát, cho vào nước vo gạo sắc, lọ lấy 100 ml. Uống liền trong 3 ngày. 

Chữa sỏi niệu quản: Rễ cỏ xước 12g, cỏ bợ 50g: kim tiền thảo, rễ dứa dại, có hàn the, mỗi vị 30g, ngải cứu 20g, dây chìa Vôi 16g, cỏ nhọ nồi 16g. Sắc uống. Phối hợp với châm cứu.

Lưu ý khi sử dụng cỏ xước

Không dùng cho phụ nữ có thai: Cỏ xước có tác dụng hành ứ, phá huyết rất dễ gây sảy thai.

Người đang giai đoạn hành kinh và người bị di tinh, mộng tinh không nên dùng.

Không dùng với bệnh nhân dị ứng với thành phần của cỏ xước.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Chỉ những khách hàng đã đăng nhập và mua sản phẩm này mới có thể đưa ra đánh giá.