Chu sa

3.800.000

Mã: GKCS Danh mục: Từ khóa: , ,

Mô tả

Chu sa là khoáng chất có nhiều hình dạng khác nhau, có tác dụng yên hồn phách, định kinh giản, sáng mắt, giải độc…Chu sa thường được sử dụng bên ngoài có thể ức chế hoặc tiêu diệt vi khuẩn và ký sinh trùng ngoài da.

Mô tả dược liệu:

Tên khác: Thần sa, châu sa, đơn sa
Tên khoa học: Cinnabaris
Tên Tiếng Trung: 朱砂 (Zhū ​​Shā)
Thuộc họ:

Chu Sa (Thần Sa) là khoáng chất có nhiều hình dạng khác nhau như hình mảnh, sợi, cục, màu đỏ hoặc nâu hồng, có những vết bóng sáng, rắn nhưng rất giòn.

Chu sa thường ở thể bột đỏ, thần sa thường ở thể cục thành khối óng ánh, to nhỏ không nhất định, màu đỏ tối hay đỏ tươi, chất nặng nhưng dễ vỡ vụn, không mùi, vị nhạt. 

Khi nghiền bằng tay không bị bắt màu đỏ là loại tốt.

Phân bố, sinh thái

Chu sa nguồn gốc ở tỉnh Hồ Nam Trung Quốc (xưa kia vùng này gọi là  Châu Thần cho nên có tên thần sa là thứ đá ở Châu Thần) được coi là tốt hơn. 

Ở nước ta Chu sa hiện nay đều còn phải nhập từ Trung Quốc, tuy nhiên chu sa và thần sa đều là những vị thuốc rất thông dụng.

Thành phần hóa học:

Thành phần chủ yếu của chu sa hay thần sa là sunfua thuỷ ngân thiên nhiên. Nguyên chất có thuỷ ngân (Hg) 86,2%, sunfua (S) 13,8%. Thường lẫn một số tạp chất khác như chất hữu cơ. Khi cho vào Ống nghiệm đun nóng sẽ cho HgS đen, cuối cùng SO, bốc lên và thuỷ ngân bám vào thành ống.

Từ trước cho đến năm 1963, người ta chưa rõ thành phần hoạt chất của chu sa hay thần sa là gì. Vì nói chung sunfua thuỷ ngân không tan trong nước, là dạng thường sử dụng trong đông y. Năm 1963, Hoàng Như Tố và Phạm Hải Tùng (Trường đại học dược khoa Hà Nội) đã tách được bằng sắc ký một hợp chất chưa xác định được có tác dụng dược lý giống thần sa. Cùng năm, Đàm Trung Bảo (Trường đại học dược khoa Hà Nội) chiết được dưới dạng tinh khiết và xác định là selenua thuỷ ngân, selenua thuỷ ngân chế bằng cách này có tác dụng của thần sa. Năm 1964, Đàm Trung Bảo còn lấy bụi lắng ở đáy bể đựng axit sunfuric ở nhà máy supelân Lâm Thao Việt Nam và ở đất quanh đó rồi chiết lấy selen với tỉ lệ 6 đến 9% rồi chế thành selena thủy ngân, selenua thủy ngân chế bằng cách này cũng có tác dụng giống hệt như selenua thuỷ ngân chế từ thần sa.

Tỷ lệ selenua thuỷ ngân trong thần sa từ 2,5 đến 3%, trong khi trong chu sa chỉ có rất ít, chừng 2%. Nếu chỉ tính riêng selen thì trong thần sa có chừng 3,5 đến 4,5%. Trong chu sa tỷ lệ rất thấp. chỉ có vết.

Tính vị – Quy kinh:

Vị ngọt, tính hơi hàn vào kinh tâm 

Sơ chế bảo quản:

Cách bào chế như sau: Mài thần sa hay chu sa trong cối đá hay bát sứ thêm ít nước mưa hay nước cất, dùng đá nam châm hút hết mùn sát, rồi thêm nước khuấy cho đều, để lắng gạn bỏ nước trong hay có màng ở trên, lại thêm nước vào khuấy cho đều, khi nước trên trong thì thôi (thuỷ phi). Cặn còn lại trong chậu được che kín (dùng giấy bản bịt miệng) rồi đem ra phơi nắng cho tới khi khô thì lấy dùng.

Bảo quản

Để nơi khô ráo, mát, kín, tránh ánh sáng, sức nóng và không khí.

Tác dụng dược lý Chu sa

Năm 1962, Ngô ứng Long (Trường sĩ quan quân y Việt Nam) đã thí nghiệm thấy dịch chiết của chu sa, thần sa mặc dù không có vết thuỷ ngân nhưng có tác dụng như chu sa thần sa.

Năm 1964, Hoàng Tích Huyền (Bộ môn dược lý trường đại học y khoa Hà Nội) thí nghiệm các muối selenua natri, kali, muối selenit và muối selenua thuỷ ngân do Đàm Trung Bảo tổng hợp từ selen trong chu sa, thần sa hay từ bụi và đất quanh nhà máy supelân Lâm Thao đã đi đến kết luận sau dày:

Các muối selenua natri, kali, muối selenit, selenat rất độc không dùng làm thuốc được.

Muối HgSe dưới dạng keo có trong chu sa hay thần sa hoặc tổng hợp được rất ít độc và có tính chất:

An thần rất mạnh, chống co giật mạnh hơn hẳn các chất an thân thường dùng như bromua v,v… Tác dụng ở vỏ não, không làm thay đổi nhịp tim và không chống được nôn do apomocphin.

Kéo dài giấc ngủ do các bacbituric lên 2 đến 3 lần và kéo dài thời gian mê do pantothal cũng 2 đến 3 lần.

Theo các tạp chí nước ngoài, một số hợp chất selen được dùng với những công dụng gần như chu sa thần sa.

Một số hợp chất hữu cơ của selen (Anh, Ấn | Độ) được dùng làm thuốc an thần.

Hợp chất selen được các nhà nghiên cứu Liên Xô cũ thí nghiệm thấy có tác dụng diệt nấm, chữa một số bệnh ngoài da.

Ba Lan, Nhật Bản dùng loại selenosemicabazon chữa lao, chống vi khuẩn.

Hợp chất selemecaptopurin dùng chống sự phát triển tế bào.

Trong năm 1964, Mỹ dùng tới 5,5% sản lượng selen làm thuốc, tức là vào khoảng 30 tấn.

Qua những thí nghiệm và một số tài liệu nước ngoài, chúng ta thấy một số kinh nghiệm nhân dân dùng chu sa, thần sa đã được chứng minh và hoạt chất chủ yếu nhiều phần là do muối selen, một tạp chất có ở một tỷ lệ rất thấp trong chu sa, thần sa. Trong thần sa tỷ lệ cao hơn, nhân dân cũng coi thần sa tốt hơn chu sa mặc dù trước đây chưa rõ lý do.

Công năng

Tây y hiện nay gần như không dùng sunfua thuỷ ngân làm thuốc. Trước kia có dùng trị bệnh giang mai nhưng thường chỉ dùng dưới dạng thuốc mỡ 10%. Ít dùng để uống.

Trái lại đông y coi chu sa, thần sa là một vị thuốc thông thường có tác dụng trấn tĩnh, an thần, chữa hoảng hốt, mất ngủ, ngủ hay mê, giật mình hoảng sợ, trẻ con hay khóc đêm. Còn dùng làm bột bao thuốc viên chống mốc của thuốc viên.

Tác dụng yên hồn phách, định kinh giản, sáng mắt, giải độc, chữa các chứng hình (gần thịt co giật) và bệnh giang mai mới phát. Dùng trong mọi bệnh của ngũ tạng, thông huyết mạch, làm hết phiền muộn, ích tinh thần, trừ độc khí trong bụng và ghẻ lở. 

Chủ trị

Chủ trị chứng mất ngủ, hay hồi hộp, lo lắng

Thanh nhiệt, chữa lở miệng do nóng nhiệt

Giải độc do rắn cắn

Thanh nhiệt trừ đàm do phế nhiệt

Kết quả nghiên cứu dược lý

Ứng dụng lâm sàng của Chu sa

Liều dùng, cách dùng Chu sa

Ngày dùng 1g chia làm 3 lần uống.

Thường dùng với liều 0,04 đến 1g/ 1 ngày dưới dạng bột hay thuốc viên hoặc kết hợp với tim lợn cho ăn. Dùng ngoài tuỳ theo nơi rắc thuốc to hay nhỏ.

Bài thuốc từ Chu sa

Dùng trong nhân dân

Giải đậu độc lúc sắp mọc hay mới mọc: Chu sa 1g (3 phân) tán nhỏ hoà với mật mà uống

Chữa di tinh: Chu sa (thuỷ phi) cho vào quả tim lợn, lấy chỉ buộc quả tim lợn lại nấu chín mà ăn.

Động kinh sinh cuồng loạn dùng “Qui thần đơn” gồm 80g Chu sa, 120g Đăng tâm bỏ vào tim lợn đực 2 cái rồi thắt chặt miệng lại bỏ trong nồi nấu 1 giờ rồi lấy Chu sa tán bột trộn với 80g bột Phục thần viên với rượu bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần dùng 9 đến 15 viên rồi đến 25 viên với nước Mạch môn đông. Nếu nặng thì dùng với Nhũ hương, Nhân sâm.

Những lưu ý khi sử dụng Chu sa

Trên thị trường có khi có bán loại chu sa nhân tạo (Vermilion), nhân dân cho không tốt bằng chu sa thiên nhiên. Có lẽ vì không có tạp chất có tác dụng là muối selenua.

Không phải thực nhiệt cấm dùng. Kỵ nung lửa (vì  biến tính có thể làm chết người). Nên dùng sống, không nên uống nhiều quá và dùng thời gian lâu sẽ ngộ độc thuỷ ngân. 

Chu sa ghét Từ thạch, sợ nước mặn, kỵ các loại huyết tươi.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Chỉ những khách hàng đã đăng nhập và mua sản phẩm này mới có thể đưa ra đánh giá.