Tổng hớp 17 Bài thuốc bổ dương nổi tiếng của người Trung Quốc.

Mục lục bài viết hiện

Hữu qui hoàn (Minh-Cảnh Nhạc toàn thư)

Thành phần và cách dùng:

Thục địa 240g, son dưọc, kỷ tử, đỗ trọng, thỏ ti tử, lộc giác giao đều 120g, son thù(sao qua), đương qui đều 90g, nhục quế 60-120g, phụ tử chế 60-120g. Thục địa chang nát thành cao, các vị thuốc khác tán bột luyện mật làm hoàn. Mỗi lần uống 3-6g, ngày uống 1-2 lần với nước sôi nguội. Cũng có thể làm thuốc viên hoặc sắc thuốc thang uống. Liều lượng theo lượng thường dùng.

Tác dụng và chủ trị:

Ôn thận dương bổ tinh huyết. Chủ trị mệnh môn hoả suy, tinh huyết bất túc, sợ lạnh, chân tay lạnh, tinh thần mệt mỏi suy nhược, tiêu lỏng bụng đau, khóp tay chân tê nhức, phù thũng, tiểu nhiều lần, dường nuy, di tinh.

Ứng dụng lâm sàng:

Thường dùng trị các chứng viêm phế quản mạn tính, khí thũng phổi, tâm phế mạn, cao huyết áp, thiếu máu, bệnh Addison, bệnh nhược cơ, loạn dưỡng cơ tiến triển, sa thận, phì đại tuyến tiền liệt, chúng đau thần kinh toạ, hội chứng tiền mạn kinh, chúng kinh nguyệt ra nhiều, rối loạn sinh dục nam, vô sinh…

1. Viêm phế quản mạn tính, khí thùng phổi: Dùng bài này gia giảm có thể trị chứng viêm phế quản mạn tính, khí thũng phổi gây nên họ khó thở, sợ lạnh, suy nhược. Trường hợp khạc đàm trắng nhiều gia khương bán hạ, tô tử, khó thở nặng gia từ thạch, ngũ vị tử, chân tay phụ gia bạch truật, bạch linh.

2. Sa thận: Dùng bài thuốc bỏ lộc giác giao, đương qui gia hoàng kỳ, thăng ma trị 2 ca sa thận độ 2 và 3 trong đó 1 ca kèm sa tử cung độ 2, 1 ca kèm tiểu đường. Kết quả sau khi uống được 30 thang, eo lưng đau nhức giảm rõ, 1 ca siêu âm phát hiện sa thận giảm rõ, 1 ca uống thuốc sau 2 tháng, đường huyết bình thường. (Bảo Trung Y Tạp chí Triết Giang, số thảng 3-1985).

3. Chứng liệt cơ: Bài thuốc gia hoàng kỳ, đảng sâm trị 51 ca liệt cơ thể tỳ thận dương hư. Bệnh nhân sợ lạnh, chân tay lạnh, tiêu lỏng lung nhúc, nuốt khó, toàn thân yêu. Kết quả khỏi 5 ca, tốt 7 ca, có kết quả 32 ca, không kết quả 7 ca (Tạp chỉ Trung Y Dược Thượng Hải, số tháng 12-1987).

4. Bệnh Addison: Bài thuốc gia đơn sâm, điền tam thất, qui bản, cam thảo dùng trị 2 ca. Bệnh nhân sắc da sậm màu, răng lại đen xạm, chân lạnh phù. Kết quả sau 3 tháng uống thuốc, hết phù tay chân, sắc da, răng lợi bình thường. Kiểm tra nước tiểu 17-OHCS, 17-KS hồi phục bình thường. Theo dõi 1 năm không tái phát. (Bảo Tân Trung Y, số tháng 3-1988).

5. Đau thần kinh toạ: Bài này bỏ son thù, đương qui gia ma hoàng, bạch thược, xuyên ngưu tất, cam thảo gia giảm trị 48 ca, trong đó đau nguyên phát 41 ca, thứ phát 7 ca. Trường họp đau như chích gia đon sâm, chế nhũ hương, mộc dược; tê gia kê huyết đằng; đêm đau nhiều gia thủ ô, đương qui; kiêm thấp bỏ kỷ tử gia thương truật, mộc thông, ăn kém tiêu lỏng gia sa nhân, som tra; ra mồ hôi bỏ ma hoàng gia hoàng kỳ. Kết quả khỏi 32 ca, có kết quả 12 ca, không kết quả 4 ca. (Báo Trung Y Tứ Xuyên, số tháng 11-1985).

6. Vô sinh: Bài này bỏ phụ tử, nhục quế, đương qui, gia tử hà xa, hải cẩu thận, trần bì, tiên linh tỳ dùng trị 11 ca vô sinh do ít tinh dịch. Kết quả 6 ca uống thuốc 2 tháng vợ có thai, 5 ca uống thuốc 3 tháng vợ có thai. (Bảo Trung Y Hà Nam, số tháng 4-1988).

7. Kinh nguyệt quá nhiều: Dùng bài thuốc là chủ yếu trị 9 ca trong đó 5 ca ở tuổi dậy thì, 2 ca do nạo thai nhiều lần, tuổi mãn kinh 2 ca. Tất cả đều đạt kết quả tốt. (Bảo Trung Y Thiếm Tây, số tháng 4-1988).

* Chú ý lúc dùng:

Bài này chủ yếu dùng trị chứng thận dương hư, tinh huyết bất túc. Trong bài dùng Kim quĩ thận khi hoàn bó đơn bì, bạch linh, trạch ta để ôn dương ích hoả bồi thận, hợp với lộc giác giao, thỏ từ từ, kỷ tử để bổ can thận ích tinh huyết, lấy âm trung cầu dương là đặc điểm phối ngũ của bài thuốc. Chí định chủ yếu của bài thuốc là: khí suy tinh thần mệt mỏi, sợ lạnh, chân tay lạnh, dương nay, hoạt tinh, gối lưng nhức mỏi, lười bệt sắc nhợt. Mạch trầm tể vô lực. Trường hợp dùng làm thuốc thang: nếu bệnh nhân có bệnh động mạch vành lâu ngày, hồi hộp ngực đau bỏ đỗ trọng, thỏ ti từ gia đìm sâm, qua lâu, quảng uất kim; cơ thể hư nhược ho lâu ngày gia ngũ vị tủ, kha tử; trường hợp tinh thần ủ rũ sắc mặt xạm đen là chứng thận dương bất túc, bỏ đỗ trọng, sơn dược gia tiên mao, tiên linh tỳ; trường hợp tiền mãn kinh kèm người lạnh, lưng nhức gia bổ cốt chi tiểu tiện không tự chủ gia ích trí nhân, tang phiêu tiêu; đại tiện lòng gia khiếm thực, nhục đậu khấu; trường hợp sa trực tràng bụng đau gia tiểu hồi hương, ô dược; phù thũng gia xa tiền tử, phục linh, ngưu tất, bụng ngực đầy tức ăn kém bỏ thục địa hoàng, câu kỷ tử gia trần bì, bạch truật, can khương.

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại

Chứng minh bài thuốc có tác dụng cải thiện và điều tiết chức năng của tế bào lâm ba B, tăng cường thể dịch miễn dịch, thúc tiến điều tiết chức năng của tế bào miễn dịch, nhờ vậy mà có tác dụng tăng tuổi thọ.

Hữu qui ẩm (Minh-Cảnh Nhạc toàn thư)

Thành phần và cách dùng:

Thục địa 6-9g (có thể gia đến 30-60g), sơn thù 3g, Sơn dụọc(sao), kỷ tử, đỗ trọng (gừng chế) đều 6g, nhục quế, phụ tử chế, cam thảo chích đều 3-6g. Sắc nước uống.

Tác dụng và chủ trị:

Ôn thận bổ tinh.Chủ trị thận dương bất túc, thần khí hư suy, chân tay lạnh, bụng đau lưng mỏi, rêu trắng lưỡi nhợt, mạch trầm tế; hoặc âm thịnh cách dương, chân hàn giả nhiệt.

Ứng dụng lâm sàng:

Bài thuốc thường dùng trị cao huyết áp, cơ thể miễn dịch suy giảm, chức năng tạo huyết trở ngại, sốt nhẹ không rõ nguyên nhân, cũng có dùng trị chứng Luput ban đỏ hệ thống, xơ chúng bì, tinh dịch không bình thường.

1. Miễn dịch tự thân suy giảm: Bài thuốc gia vị dùng trị chứng tự thân miễn dịch suy giảm gây nên lạnh, sợ lạnh, tóc không mịn màng, sắc mặt xạm đen, thần khí suy nhược (Sách Thực Dụng Trung Y Nội Khoa Học, Nhà Xuất Bản Khoa Học Kỹ Thuật Thượng Hải).

2. Cao huyết áp: Bài thuốc gia từ thạch, câu đằng trị chứng cao huyết áp, hoa mắt chóng mặt thể thận hư. (Tạp chí Tân Y Dược Học, số tháng 6-1979).

3. Chứng Luput ban đỏ hệ thống: Bài này là chủ yếu dùng trị chứng Luput ban đỏ hệ thống thể thận duong hự. (Báo Tân Trung Y, số tháng 9-1988).

4. Chứng không xuất tinh lúc giao hợp: Dùng bài này là chủ yếu trị chứng không xuất tinh thể thận dương hư. (Tạp chí Trung Y Triết Giang, sổ tháng 3-1985).

* Chú ý lúc dùng:

Bài này chủ yếu dùng trị chứng thận dương bất túc. Trong bài, phụ tử, quế nhục bổ thận dương, hợp với sơn thù tư thận âm theo lý luận âm sinh duong trưởng, âm dương hố căn bài thuốc bổ thận và bổ dưỡng can tỳ mà trọng tâm là bố thận, đó là đặc điểm của phổi ngũ bài thuốc. Chỉ định của bài thuốc trên lâm sàng là lưng nhức chân tay lạnh, mệt mỏi, lưỡi nhợt, mạch trầm tế. Trường hợp khí hư nặng gia nhân sâm, bạch truật; hoả suy không sinh thổ có triệu chứng nôn oẹ, ở chua, gia can khương; bụng đau tiêu chảy, gia nhục đậu khấu, đảng sâm; bụng dưới đau gia ngô thù du; huyết trắng nhiều gia bố cốt chi, khiếm thực; kinh nguyệt ít, bụng đau gia đương qui, bạch thược.

Không nên dùng đối với chúng lưng đau nhức, lưỡi đó miệng khô.

Nhân sâm lộc nhung hoàn (Thanh-Thánh tế tổng lục toát yếu)

Thành phần và cách dùng:

Nhân sâm 0,9g, lộc nhung, tang phiêu tiêu, thiên hoa phấn đều 30g, son thù, đỗ trọng, hoàng kỳ (mật chích) đều 0,9g, kê nội kim 4 cái, thỏ ti tử 45g. Các vị thuốc đều tán bột mịn trộn mật làm hoàn. Mỗi lần uống 3-6g, ngày uống 1-2 lần, lúc đói với nước sôi ấm. Cũng có thể dùng làm thuốc thang uống theo liều thường dùng.

Tác dụng và chủ trị:

Bổ khí huyết trợ thân dương. Chủ trị chứng thận khí hư tổn, tiểu nhiều lần, eo lưng nhức mỏi, chân yếu, rêu trắng mỏng, lưỡi bệu nhợt, mạch nhỏ yếu.

Ứng dụng lâm sàng:

Có thể dùng trị chứng đái dầm, giảm sút tính dục, chúng đái nhạt, tiểu nhiều ở người cao tuổi.

* Chú ý lúc dùng:

Bài này chủ yếu dùng trị chứng thận khí hư tổn sinh ra lưng nhức mỏi, tiểu nhiều lần. Trong bài, lộc nhung, thỏ ti tử, tang phiêu tiêu bổ thận ôn dương sáp tinh, nhân sâm, hoàng kỳ ích khi phò chính; phối hợp với thiên hoa phấn dưỡng ẩm sinh tân. Trường hợp dùng làm thuốc thang, nếu có triệu chứng dương nuy, tảo tiết gia cẩu tích, tiên linh tỳ, đại tiện lóng bỏ thiên hoa phấn gia bổ cốt chi, hoài sơm, khiếm thực; uống một tiểu hai gia ích trí nhân, phụ tử, nhục quế.

Lộc giác giao hoàn ( Minh-Y học chính truyện )

Thành phần và cảnh lùng:

Lộc giác giao 500g, lộc giác sương, thục địa đều 250g, ngu tất, phục linh, thỏ tí tử, nhân sâm đều 90g, đương quy 120g, bạch truật, đỗ trọng đểu 60g, hổ cốt (chích), qui bản (chích) đều 30g.

Tróc hết hoà tan lộc giác giao với rượu, các loại thuốc khác tản bột mịn trộn với lộc giác giao làm hoàn. Mỗi lần uống 9g, lúc đói với nước gừng hoặc nước muối nhạt. Cũng có thể cải làm thuốc thang sắc uống, các vị thuốc theo lượng thường dùng.

Tác dụng và chủ trị:

Bổ thận bồi tinh. Chủ trị chứng khí huyết suy nhược hai chân teo yếu, vận động khó khăn. OỨng dụng lâm sàng:

Bài thuốc thường dùng trị chứng viêm đa thần kinh, viêm tủy cấp, teo cơ tiến triển, chúng nhược cơ, chúng tê bại có chu kỳ, chúng loạn dưỡng cơ, chứng đau gót chân.

1. Chứng nhược cơ: Dùng bài thuốc là chính trị chứng nhược cơ nặng hai chân tạo liệt. Đại tiện lỏng gia nhục quế, hoài sơn, bổ cốt chi; tiểu nhiều lần, tiểu không tự chủ gia ích trí nhân, tang phiêu tiêu, khó thở chân lạnh gia hoàng kỳ, phụ tử.

2. Gót chân đau: Bài này bỏ lộc giác giao, hổ cốt gia hoàng kỳ, kỷ tử trị 40 ca bệnh nhân trung niên và cao tuổi. Trong số bệnh nhân có 24 ca đau gót chân một bên, 16 ca đau 2 bên. Thời gian mắc bệnh từ 1-18 tháng. Trường hợp đau nhiều gia huyết liệt, uy linh tiên; gót chân lạnh gia phụ tử, nhục quế. Kết quả sau khi uống thuốc từ 3- 21 thang, hết đau 33 ca, giảm đau 5 ca, không khỏi 2 ca. (Báo Trung Y Triết Giang, số tháng 6-1990).

* Chú ý lúc dùng:

Bài thuốc chủ yếu dùng trị chứng âm dương lưỡng hự lâu ngày gây nên chi dưới teo yếu. Trong bài, lộc giác, thỏ ti tứ ôn thận tráng dương, thục địa, qui bản tuâm bồi tinh, hố cốt, ngưu tất cường cần tráng cốt, nhân sâm, đương qui ích khí dưỡng huyết, âm dương đều bố, khí huyết song điều là đặc điểm phối ngũ của bài thuốc. Chỉ định chính của bài thuốc là chúng teo liệt cơ, chân tay lạnh, mệt mỏi sợ lạnh, chất lưỡi đỏ nhạt, mạch trầm tể vô lực.

Trường hợp dùng thuốc thang, nếu trên lâm sàng di tinh tảo tiết gia thêm toả dương, nhục thung dung; là tai vàng đầu gia kỷ tử, đổng tật lê; tiểu tiện nhiều lần mà trong nhiều gia nhục quế, ích trí nhân; eo lưng mỏi đau gia ba kich thiên, dâm dương hoắc; chân teo liệt lâu ngày hoặc người cao tuổi chính khi suy gia dùng bột tứ hà xa, bột tuỷ xương heo,

Không dùng bài thuốc đối với trường hợp liệt teo cơ, tiểu vàng đậm, lưỡi đó rêu vàng nhầy. Lúc dùng thuốc thang, có thể bỏ xương hổ vì hiểm.

Những bài thuốc cùng tên

Sách Thái bình thảnh huệ phương có 2 bài Lộc giác giao hoàn:

Bài (1). gồm lộc giác giao, nhục thung dung, bổ cốt chi, thạch hộc, thục địa, son dược, nhân sâm, phụ tử, thỏ ti tử, phục linh, đỗ trọng, son thù, sao táo nhân, hổ cảnh cốt, ngưu tất, ngũ vị tử, ba kích thiên. Có tác dụng ích thận bổ tinh. Chủ trị cốt cực, cơ teo gây tạng thận suy nhưỌC, lưng đùi yếu, khóp xuong đau.

Bài (2). gồm lộc giác giao, phụ tử, quế tâm, đỗ trọng, son thù, thỏ ti tử, thục địa, nhục thung dung, ngũ vị tử, ngưu tất, ba kích thiên. Có tác dụng ích thận, bổ cốt. Chủ trị chứng hư lao, eo lưng đùi đau không đi được.

Qui lộc nhị tiện giao

(Minh-Y phương khảo) Bài thuốc còn có tên là Qui lộc nhị tiên cao, Qui lộc giao, Qui lộc sâm kỳ giao

Thành phần và cách dùng:

Lộc giác 5000g, qui bản 2500g, nhân sâm 450g, câu kỷ tử 900g. Tất cả các vị thuốc nấu thành cao. Mỗi lần uống 6-9g, ngày uống 2 lần vào sáng và tối lúc bụng đói. Có thể uống với rượu hoặc làm thuốc sắc uống, liều các vị thuốc theo lượng thường dùng.

Tác dụng và chủ trị:

Tư âm bổ huyết, dưỡng tinh trợ duong. Chủ trị chứng hư lao thận suy âm dương lưỡng hư, di tinh, duong nuy, eo lưng đau nhức, gầy yếu vô lực, mắt hoa mắt mờ. OỨng dụng lâm sàng:

Bài thuốc thường dùng trị chứng thiếu máu, suy sinh dục, vô sinh, không có thai, tiểu đường, suy nhược thần kinh, chúng lú lẫn người cao tuổi.

1. Chúng thiếu máu do suy tủy: Bài thuốc gia thêm đường qui, hoàng kỳ trị chứng suy tủy. Trường hợp ăn kém ngực tức gia bạch truật, trần bì, hoa mắt chóng mặt gia a giao, thục địa; đại tiện lỏng gia phục linh, bổ cốt chi.

2. Chứng rối loạn tình dục: Bài thuốc gia tỏa duong, nhục thung dung, đường qui điều trị suy tình dục nam. Trường hợp di tinh hoạt tinh gia thỏ ti tử, kim anh tử, khiếm thục, lien tu; duong nuy, tảo tiết gia tiên mao, tiên linh tỳ, cẩu tích.

3. Tiểu đường: Bài thuốc gia hoài sơn, địa hoàng trị bệnh tiểu đường có triệu chứng lưng gối nhức mỏi suy nhược. Nếu tiểu nhiều gia ích trí nhân, ngũ vị tử, mắt hoa mắt mờ gia cúc hoa, nữ trinh tử; ù tai váng đầu gia từ thạch mẫu lệ; gót chân đau gia son thù, nhục thung dung.

4. Trị suy nhược thần kinh: Bài thuốc gia ngũ vị tử chế thành cao dùng trị 1 ca mất ngủ 2 năm kèm theo đau đầu chóng mặt hay quên, hồi hộp ăn ít nhiều lần điều trị không kết quả. Kết quả sau khi uống hết 1 liều thuốc khỏi bệnh. (Bảo Trung Y Tứ Xuyên, số tháng 1-1985). 

* Chú ý lúc dùng:

Bài thuốc này chủ yếu dùng trị chứng hư tổn. Trong bài, qui bản, lộc giác song bổ âm dương, nhân sâm, kỷ tử song bổ khí huyết, đó là đặc điểm phối ngũ của bài thuốc. Lúc dùng thuốc thang, trường hợp kinh nguyệt ít, khí hư nhiều vô sinh, có thể gia nhục quế, thỏ ti tử, đương qui, ba kích thiên; ngủ ít gia toan táo nhân, ngũ vị tử; người hàn chân tay lạnh gia phụ tử, hoàng kỳ; đại tiện lỏng gia hoài sơn, bổ cốt chi,

Không nên dùng bài thuốc trong trường hợp miệng họng khô, cốt chung triều nhiệt, lưỡi đỏ mạch sác,.., thuộc chúng âm hư dương kháng.

Ban long hoàn (Minh-Cảnh Nhạc toàn thư)

Thành phần và cách dùng:

Lộc giác giao, lộc giác sương, bá tử nhân, thỏ ti tử, thục địa hoàng đều 250g, bạch phục linh, bổ cốt chi đều 120g. – Cách chế và dùng:

Hoà tan lộc giác giao, các vị khác tán bột mịn, trộn với rượu làm hoàn. Mỗi lần uống 2-3g, ngày uống 2-3 lần lúc đói với nước muối nhạt hoặc rượu. Có thể làm thuốc thang sắc uống với liều thường dùng của thuốc.

Tác dụng và chủ trị:

Ôn bổ thận dương. Chủ trị thận dương bất túc, lưng gối yếu, sợ lạnh, liệt dương tảo tiết hoạt tinh, tiểu tiện ra không dứt, tiểu đêm nhiều lần, lưỡi bệu nhợt, rêu trắng mỏng, mạch hư yếu vô lực.

Ứng dụng lâm sàng:

Bài thuốc thường dùng trị chứng phì đại tuyến tiền liệt, tinh dịch bất thường, tính dục suy giảm, chúng không thụ thai, tiểu đêm nhiều, bệnh tiểu đường.

1. Phì đại tuyến tiền liệt: Dùng bài thuốc gia nhục quế trị chứng phì đại tuyến tiền liệt người cao tuổi. Nếu tiểu đục gia tỳ giải, ích trí nhân; tiểu không thông lợi gia ngưu tất, xa tiền tử.

2. Tinh dịch không bình thường: Dùng bài này gia thiên môn, nhân sâm trị chứng tinh dịch số lượng ít, tỷ lệ tinh trùng

hoạt động thấp, tinh dịch khô dính, không có tinh trùng… Truòng họp bụng dưới đau lạnh gia tiểu hồi, ô dược, nhục quế; đại tiện lỏng, gia phụ tử, bạch truật, hoài sơn (Sách Thực Dụng Trung Y Nội Khoa Học, NXB Khoa Học Kỹ Thuật Thượng Hải ).

3. Tình dục suy giảm: Dùng bài thuốc gia kỷ tử, ba kích thiện, tiện mạo, tiện linh tỳ trị chứng nam dương nuy, tảo tiết, nữ lãnh cảm gây vô sinh. Nếu hai chân lạnh gia nhục quế, nhục thung dung, toả dương; tóc khô, lượng kinh ít gia đương qui, qui bản, tử thạch anh; trường hợp huyết trắng trong loãng như nuốc gia khiếm thực, hoài sơn.

4, Bệnh tiểu đường: Bài thuốc gia hoài sơn, sơn thù, khiếm thục, kim anh tử trị chứng tiểu nhiều, tiểu nhiều lần, nước tiểu trong, chân yếu lưng mỏi, tinh thần mệt mỏi. Trường hợp miệng khô muốn uống nhiều gia thiên hoa phấn, miết giáp; hoa mắt chóng mặt gia kỷ tử, bạch thược.

5. Tiểu đêm nhiều: Bài thuốc gia ngũ vị tử, son thù, ích trí nhân, trị chứng tiểu đêm nhiều ở người cao tuổi. Trường hợp khó thở, mặt phù, mệt mỏi gia nhân sâm, hoài sơn, bạch truật; đại tiện lỏng bỏ bá tử nhân gia phụ tử, quế nhục; tiểu són gia ngũ vị tử, tang phiêu tiêu, mẫu lệ nung. 

* Chú ý lúc dùng:

Bài thuốc chủ yếu dùng trị chứng thận dương bất túc, di tinh liệt dương, tiểu nhiều, tiểu nhiều lần. Trong bài, lộc giác giao, lộc giác sương đại bổ nguyên dương, phối hợp với thực địa, thỏ ti tử, bổ cốt chi ôn thận bồi tình cố sáp, bá tử nhân, phục linh dưỡng tâm thông lợi, trong ôn có nhuận, bố kiêm sáp là đặc điểm phối ngũ của bài thuốc.

Trường hợp dùng thuốc thang, nếu có triệu chứng dương tổn ảnh hưởng đến âm gia qui bản, miết giáp, câu kỷ tử; tâm thận lưỡng hư gia mạch đông, nhân sâm, viễn chí, tỳ thận lưỡng hư gia hoài sơn, khiếm thực, thạch liên nhục.

Trường hợp miệng tảo họng khô, lưỡi đó rêu vàng thuộc chứng âm hư hoả vượng, không nên dùng bài này.

Trong Y văn cổ, bài thuốc cùng tên có Ban long hoàn (Y học chính truyền) gồm có: lộc giác giao, lộc giác sương, thỏ ti tử, bả tư nhân, thục địa hoàng, có tác dụng ôn dương bố thận, chủ trị chứng thận suy, dường nuy, di tinh.

Thận khi hoàn (Hán-Kim quí yếu lược). 

Cũng có tên là Kim quĩ thận khi hoàn, Bát vị thận khi hoàn

Thành phần và cách dùng:

Địa hoàng khô 240g, son thủ, son dược đều 120g, trạch tả, phục linh, đơn bì đều 90g, quế chi, phụ tử nướng đều 30g. Tất cả các vị thuốc tán bột mịn luyện mật làm hoàn, mỗi lần uống 3-6g, ngày uống 2-3 lần với nước sôi ấm hoặc nưÓC muối nhạt. Có thể dùng làm thuốc thang sắc uống theo liều lượng thuốc thường dùng.

Tác dụng và chủ trị:

Ôn bổ thận dương.Chủ trị chứng thận dương bất túc, eo lưng nhức chân mỏi, bụng dưới đau quặn, tiểu không thông lại hoặc tiểu nhiều trong,bứt rứt không nằm được mà khó thở, thân lười bệu nhọt, mạch hư nhưỌC.

Ứng dụng lâm sàng:

Bài thuốc thường dùng trị chứng viêm thận mạn, tiểu đường, viêm đường tiết niệu, cao huyết áp, huyết áp thấp, phì đại tuyến tiền liệt, di niệu, suy nhược thần kinh, viêm phế quản mạn, phế khí thũng, loét dạ dày hành tá tràng, đục thủy tinh thể, hội chứng tiền mạn kinh, tử cung xuất huyết cơnăng, vô sinh, chống tăng sinh xương, mề đay, chúng lở miệng tái phát nhiều lần.

1. Viêm thận mạn tính: Bài thuốc gia ngủ bì ẩm trị 12 ca. Kết quả khỏi 10 ca. Thời gian điều trị dài nhất 40 ngày, ngắn nhất 21 ngày, thường sau khi uống thuốc 2 tuần bệnh thuyên giảm, hết phù (Tạp chí Trung Y, số tháng 12-1956). Một báo cáo khác dùng bài thuốc gia hoàng kỳ, đảng sâm, bạch mao căn, đon sâm điều trị có kết quả sau khi uống thuốc 2 tháng đạm niệu giảm, sau 4 tháng nước tiểu bình thường, sau khi uống 131 thang, triglyceride, cholesterol toàn phần bình thường. (Tạp chí Trung Y Tứ Xuyên, số tháng 9-1985).

2. Cao huyết áp: Bài thuốc gia long cốt, mẫu lệ, hạn liên thảo trị 1 bệnh nhân cao huyết áp nguyên phát kèm theo chóng mặt ù tai, eo lưng nhúc, tiểu nhiều lần, liệt dương. Kết quả sau khi uống 20 thang, huyết áp bình thường, theo dõi 1 tháng bệnh ổn định. (Tạp Chí Trung Y TỨXuyên, số tháng 5-1987).

3. Bệnh tiểu đường: Bài thuốc gia thiên hoa phấn, thiên đông, mạch động, sinh hoàng kỳ, dùng trị 1 bệnh nhân mắc bệnh đã 8 năm, đã dùng insulin trị ngưng thuốc lại tái phát, có triệu chứng ăn nhiều, uống nhiều tiểu nhiều, người gầy da khô nổi vảy. Kết quả uống 24 thang hết triệu chứng lâm sàng. Theo dõi 14 tháng không tái phát. (Sách Nội Khoa Học, Nhà Xuất Bản Nhân Dân Thượng Hải ).

4. Hen phế quản mạn tính: Bài thuốc gia hồ đào nhục, bổ cốt chi, cáp giới dùng trị các chứng hen phế quản mạn tính, phế khí thũng ổn định, eo lưng đau, chân tay yếu, chân lạnh, có tác dụng có bản phò chính kết quả tốt. (Nội Khoa Học Nhà Xuất Bản Nhân Dân Thượng Hải ).

5. Chúng sốt: Dùng bài thuốc gia giảm trị 2 ca: 1 ca sốt do nạo tử cung sót, 1 ca do sỏi bể thận. Kết quả sau khi uống 2.3 thang, sốt hạ, sau 1 tuần khỏi bệnh. (Bảo Tân Trung Y, số tháng 11-1984).

6, Hội chứng tuyến tiền liệt: Dùng bài thuốc là chính trị 56 ca bao gồm phì đại tuyến tiền liệt, xơ cứng cổ bàng quang, viêm tuyến tiền liệt và viêm bàng quang cơ năng. Kết quả chứng tiểu khó có kết quả 46,9%, tiểu nhiều lần, tiểu đêm có kết quả 36%. (Bảo Y Học Nước Ngoài Trung Y Trung Dược, số tháng 4-1984)

7, Đục thủy tinh thể người cao tuổi: Dùng bài thuốc trị trong nhiều ngày, mỗi ngày 3g. Tỷ lệ có kết quả 80%, trong đó 60% thị lực có cải thiện, 20% đục thủy tinh thể giữ ổn định, (Y Học Nước Ngoài Trung Y Trung Dược, số tháng 4-1984).

8. Bi tiểu tiện: Bài thuốc gia đại phúc bi, trần bì, xa tiền tử dùng trị 2 ca bí tiểu tiện sau sanh phải đặt ống thông niệu 8 ngày. Kết quả sau khi uống 1 thang, nước tiểu thông, uống thêm vài thang khỏi bệnh. (Tạp chí Trung Tây YKết Hợp, số thảng 7-1988).

9. Biến chứng do thuốc cortisol Bài thuốc gia giảm trị 4 ca do uống cortison dẫn đến rối loạn tâm thần, huyết áp cao, hoa mắt chóng mặt, mập phì, ra nhiều mồ hôi. Kết quả uống thuốc được 6-24 thang, bệnh giảm nhẹ, sau 2 tháng toàn bộ khỏi. (Tạp chí Trung Y, số tháng 1-1987).

10. Chúng giảm thiểu tinh trùng: Dùng thuốc tán thận khi hoàn mỗi ngày 5g điều trị 52 ca vô sinh do giảm thiểu tinh trùng. Thời gian mắc bệnh từ 1 đến 11 năm. Thời gian điều trị 12 tuần. Kết quả khỏi 11 ca, có kết quả 18 ca, không kết quả 23 ca. (Học Báo Trung Y Học Viện An Huy, số tháng 2-1987). * Chú ý lúc dùng:

Bài thuốc chủ yếu dùng trị chứng thận dương bất túc. Trong bài, quế chi, phụ tử ôn thận trợ dương, thục địa, sơn thù, sơn dược tư bổ can, tỳ, thận âm; âm dương tương sinh, cương nhu tương tế khiến cho nguyên khí của thận sinh hỏa không ngừng, đó là đặc điểm phối ngũ của bài thuốc. Chỉ định lâm sàng của bài thuốc là chúng eo lưng nhức mỏi chân yếu, phần dưới cơ thể thường xuyên có cảm giác lạnh, tiểu không thông lợi hoặc tiểu nhiều lần, nước tiểu nhiều trong, lưỡi bệu nhợt, rêu trắng, mạch xích hư nhược.

Trường hợp dùng làm thuốc thang sắc uống, trên lâm sàng nểu tiểu nhiều gia ngũ vị tử; tiểu nhiều lần, sắc mặt tái nhợt gia lộc nhung, bổ cốt chi; liệt dương gia ba kích thiên, tỏa dương; giao hợp không xuất tinh gia nhục thung dung, câu kỷ tử; xương tăng sinh, đau nhiều gia nhũ hương, mộc dược; tuyến tiền liệt to gây tiểu khó gia hoàng kỳ, thông quan tán; phối khí thũng tự phát gây khó thở gia cáp giới, ngũ vị tử, từ thạch; ngủ khó, hay quên, ù tai gia đảng sâm, toan táo nhân.

Chống chỉ định của bài thuốc: 

Eo lưng nhức mỏi, nước tiểu nhiều hoặc không thông lợi nhưng nước tiểu đỏ; miệng khô bứt rứt, lưỡi đỏ, mạch tế sác.

Những bài thuốc khác cần chú ý: Gia giảm thận khi hoàn (Tể sinh phuong) tức bài này bỏ phụ tử gia lộc giác, trầm hương, ngũ vị tử, có tác dụng tư thận bồi tình, chu trị chứng lao thương thần kinh, thân thuỷ bất túc tâm hỏa vượng, miệng lưỡi khô cháy, uống nhiều mà thông lợi, tinh thần hoảng hốt bứt rứt , mặt đó, eo lưng đau, chân yếu không đáng được. Bài Quế phụ địa hoàng hoàn (Thái Bình Huệ Dân hoà tê cục phương), cũng gọi là Phụ quế bát vị hoàn, tác bài này, quế chi thay dùng nhục quế có tác dụng ôn bổ thận dương, chú trị chứng thận dong bất túc. Bài Thất vị địa hoàng hoàn (Dương y đại toàn) tác bài này bỏ phụ tử, quế chi, gia nhục quế, có tác dụng tư thủy bổ thận, chủ trị chứng thận thủy bất túc, hư hóa thượng viêm, sốt khát nước, miệng lưỡi sinh lớ, răng lợi loét họng đau hoặc người khô, sốt về đêm.

Những bài thuốc cùng tên

Những bài thuốc trùng tên với bài Thận khí hoàn có: 1. Thận khi hoàn (Bị cấp thiên kim yếu phương): có 2 bài:

a. Gồm: địa hoàng, huyền sâm, phục linh, son dưỌC, Son thù, phụ tử, trạch tả, quế tâm, thược dược; có tác dụng ích thận ôn duong, chủ trị chứng thận hư lao tổn.

b. Gồm: địa hoàng, trạch tả, son dược, phục linh, đơn bì, quế tâm, bán hạ; có tác dụng ôn dương bổ thận; chủ trị chúng thận khí bất túc, hình thể gầy, hụt hơi, tại điếc, mắt mờ.

2. Thận khí hoàn (Mạch nhân chứng trị) gồm: thuong truật, thục địa, ngũ vị tử, xuyên khung, táo nhục có tác dụng ích thận kiện tỳ; chủ trị chứng tỳ thận bất túc, hư tổn do phòng dục quá độ.

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại

1. Bài thuốc có tác dụng tăng tỷ suất của tế bào lâm ba T, làm giảm tỷ suất của tế bào lâm ba B, có ảnh hưởng nhất định đến tế bào miễn dịch, làm tăng chức năng miễn dịch của cơ thể bị giảm sút.

2. Bài thuốc có tác dụng chống lão suy. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy lúc bơm thuốc cho chuột nhắt trắng 12 tháng tuổi (tuổi trước lão suy của chuột) thuốc có khả năng tăng sức chống mệt mỏi chống lạnh và làm tăng trọng lượng lá lách và tuyến ức (cơ quan miễn dịch) của chuột 3 tháng tuổi (tuổi thanh xuân của chuột) một cách rõ rệt.

3. Bài thuốc có tác dụng phòng đục thuỷ tinh thể.

4. Thuốc có tác dụng hạ đường huyết trên thực nghiệm đối với chuột nhắt trắng.

5. Độc tính của thuốc: cho chuột trắng uống thuốc với liều lượng khác nhau trong 6 tháng liền; sau đó kiểm tra chuột trên đại thể và vị thể, xét nghiệm sinh hoá đều không phát hiện nhiễm độc.

Tế sinh thận khi hoàn 

(Tổng-Tế sinh phương) Nguyên tên Gia vị thận khi hoàn

Thành phần và cách dùng:

Phụ tử (bào) 2 củ, phục linh, trạch tả, sơn thù, sơn dược (sao), xa tiền tử (chưng rượu), đơn bì đều 30g, quan quế, ngưu tất (chung rượu), thục địa đều 15g. Tất cả các vị thuốc tán bột mịn luyện mật làm hoàn. Mỗi lần uống 9g, ngày uống 1-2 lần. Cũng có thể dùng làm thuốc thang sắc uống, các vị thuốc theo liều lượng thường dùng.

Tác dụng và chủ trị:

Ôn dương bổ thận hoá khí lợi thuỷ. Chủ trị chứng thận hư thuỷ phiếm, tiểu ít cơ thể phù, bụng đầy trướng, lưng nhức mỏi, chân tay lạnh.

Ứng dụng lâm sàng:

Bài thuốc thường dùng trị chứng viêm cầu thận mạn tính, tuyến tiền liệt tăng sinh, viêm tuyến tiền liệt mạn, bí tiểu, bệnh tiểu đường, cao huyết áp, chứng rối loạn tinh dịch…

1. Viêm cầu thận mạn tính: Dùng bài thuốc trị 10 ca. Kết quả ổn định và cơ bản ổn định 4 ca, có kết quả 3 ca, không kết quả 3 ca. (Bảo Trung Y Giang Tô, số tháng 11-1965).

2. Chứng bí tiểu: Bài thuốc gia ba kích thiên dùng trị 2 ca. Bệnh nhân kèm theo sợ lạnh, chân tay lạnh, sắc mặt tái nhợt, lưỡi nhợt rêu trắng, mạch trầm tế. Kết quả uống thuốc 1-2 thang, tiểu tiện thông, uống thêm vài thang bệnh khỏi và ra viện. (Bảo Trung Y TẾ Xuyên, số tháng 5-1986).

3. Huyết áp cao: Bài thuốc gia ba kích thiên, tiên linh tỳ, long cốt, mẫu lệ, đon sâm trị 40 ca huyết áp cao thể tỳ thận duong hư thời gian mắc bệnh ngắn nhất 5 năm, dài nhất 20 năm. Kết quả tốt 2 ca, có tiến bộ 31 ca, không kết quả 7 ca. (Tạp chí Trung Y Vân Nam, số tháng 6-1987).

4. Viêm tuyến tiền liệt mạn tính: Bài thuốc gia đỗ trọng, hoàng kỳ trị 18 ca. Kết quả điều tốt. (Bảo Trung Y Thiếm Tây, số tháng 8-1986).

* Chú ý lúc dùng:

Bài thuốc chủ yếu dùng trị chứng thận hư, vùng eo lưng nặng nề, phù, tiểu không thông lợi. Trong bài, dùng thận khi hoàn ôn bổ thận dương, hoả khi lợi thủy, phối hợp với ngưu tất, xa tiền từ để tăng cường lợi tiểu tiêu phù.

Trường hợp dùng làm thuốc thang, nếu đại tiện lòng gia bổ cốt chi, bạch biến đậu; dương nuy tảo tiết gia tỏa dương, ba kich thiên; thần khí hư nhược, bụng dưới đau truỵ gia hoàng kỳ, nhân sâm; phù nhiều gia can khương, bạch truật; người cao tuổi, nguyên khi đại hư gia lộc giác phiến, hồng sâm, tiên mao, tiên linh tỳ. 

Ích thọ địa tiên đơn (Nguyên-Đan Khê tâm pháp)

Thành phần và cách dùng:

Cúc hoa, ba kích thiên đều 90g, kỷ tử 60g, nhục thung dung 120g. Tất cả thuốc tán bột mịn, luyện mật làm hoàn bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 30 viên. Mỗi ngày uống 23 lần lúc đói với nước muối nhạt hoặc với rượu đế. Có thể dùng thuốc thang uống.

Tác dụng và chủ trị:

Bổ ích can thận.Chủ trị chứng chóng mặt, ù tai, mắt mờ, thị lực giảm.

Ứng dụng lâm sàng:

Bài này thường dùng trị chứng lão suy, xơ cứng động mạch não, hội chứng cột sống cổ, huyết áp thấp gây nên chúng huyễn vụng.

1. Động mạch não xơ cứng: Bài này gia đan sâm có thể trị chứng xơ cứng động mạch não; nếu kèm khí hư nặng gia hoàng kỳ, đảng sâm; kèm theo âm hư gia sinh địa, mạch động; kèm dong hư gia nhục quế, thục địa.

2. Hội chứng cột sống cổ: Bài thuốc gia cát căn, xích thuộc trị hội chứng huyễn vụng do hội chứng đốt sống cổ, gáy cùng gia cát căn; có hội chứng đau vai cánh tay gia bổ cốt chi, uy linh tiên, ngũ gia bì.

* Chú ý lúc dùng:

Bài thuốc chủ yếu dùng trị chứng mắt mờ, ù tai, hoa mắt chóng mặt. Trong bài dùng cúc hoa, kỷ tử duỗng can thận, ba kích thiên, nhục thung dung bổ thận duong.

Thập bổ hoàn (Tống-Tế sinh phương)

Thành phần và cách dùng:

Thục địa, son thù, son dược, trạch tả, phục linh, mẫu đơn bì, nhục quế (bỏ bì), lộc nhung (cạo lông chung rượu) đều 30g, phụ tử, ngũ vị tử đều 60g. Tất cả các vị thuốc tán bột mịn luyện mật làm hoàn nhỏ. Mỗi lần uống 3-6g, ngày uống 2-3 lần với nước muối nhạt hoặc rượu. Có thể làm thuốc thang sắc uống, các vị thuốc theo lượng thường dùng. 

Tác dụng và chủ trị:

Ôn bổ thận dương. Chủ trị chứng nhận nguyên hư hàn, bàn chân lạnh phù, tai ù tai điếc, chân gối yếu, tiểu không thông lợi, chân tay gầy, eo lưng đau nhức,chất lưỡi bệu nhợt, rêu trắng mỏng, mạch tế hư, xích nhược.

Ứng dụng lâm sàng:

Bài thuốc thường dùng trị các chứng tại điếc cơnăng, viêm thận mạn tính, phì đại tuyến tiền liệt, tiểu đêm nhiều, sau sanh bí tiểu, tắt kinh cơ năng, suy nhược tính dục, lão suy sớm…

1. Viêm thận mạn tính: Bài thuốc gia sinh hoàng kỳ, ích mẫu thảo trị viêm cầu thận mạn, tiểu không thống lọi, chân tay phù; protein niệu dương tính gia khiếm thực, bạch truật, kèm theo huyết áp cao gia sinh mẫu lệ, sinh đại giá thạch.

2. Tai điếc cơ năng: Bài thuốc gia từ thạch, xương bồ. Người già cơ thể yếu gia nhân sâm, hoàng kỳ.

3. Phì đại tuyến tiền liệt: Bài thuốc gia ngưu tất, xa tiền tử, đông quì tử; tiểu són gia ích trí nhân, tang phiêu tiêu, người già cơ thể yếu gia hồng sâm, hoàng kỳ, dâm dương hoắc.

4. Chứng tiểu đêm nhiều: Bài thuốc gia kim anh tử, thỏ ti tử, khiếm thực; nếu tiểu có máu bỏ phụ tử, lộc nhung gia tri nhẫu, hoàng bá; trường hợp người cao tuổi tiểu són gia nhân sâu, ích trí nhân, tang phiêu tiêu, mẫu lệ nung.

5. Chứng bể kinh cơ năng: Bài này gia tiên mao, dâm duong hoắc, đương qui, tử thạch anh; nếu bụng dưới đau gia chế huong phú, diện hồ sách, tiểu hồi hương; bầu vú căng tức gia sài hồ, lưu hành tử, cát cánh, béo phì gia thương truật, chỉ thực, nam tinh, hường phụ.

6. Sa sút tinh dục: Bài này gia thỏ ty tử, cẩu thận, tiên mao, dâm dương hoắc trị liệt dương, tảo tiết; di tinh gia kim anh tử, phúc bồn tử.

* Chú ý lúc dùng:

Bài này chủ yếu dùng trị chứng thận dương hư dẫn đến phù, tiểu không thông lợi, ù tai điếc tai. Trong bài dùng thận khi hoàn tự thiếu âm thận thủy, ích mệnh môn tướng hỏa, thêm lộc nhung, ngũ vị tử ôn dương bồi tinh, nạp khí; ôn nhuận tráng dương mà không tổn thương âm, đó là đặc điểm phối ngũ của bài thuốc. Trên lâm sàng dùng trị các bệnh có triệu chứng tinh thần suy nhược, người mát sợ lạnh, chân tay lạnh, nước tiểu nhiều trong, lưỡi bệu nhợt rêu trắng mỏng, hai mạch xích đều vi tế hoặc phù đại.

Trên lâm sàng lúc dùng thuốc thang có thể gia giảm như: nếu dương tổn cập âm như ra mồ hôi nhiều 2 mả đó gia qui bản, miết giáp, mạch đông, chóng mặt hoa mắt nặng gia kỷ ti , hà thủ ô, bạch thược; suyễn tức khó thở gia bổ cốt chi, đại giả thạch, trầm hương, nhân sâm.

Bài thuốc không nên dùng đối với các bệnh có triệu chứng như họng khô miệng tảo triều nhiệt mặt đó, tiểu nóng đỏ, lưỡi đó ít rêu mạch tế sắc thuốc chứng thận âm bất túc hư hoá thượng viêm.

Những bài thuốc cùng tên

1. Thập bổ hoàn (Bách nhất tuyến phương): gồm phụ tử, hồ lô ba, mộc hương, ba kích thiên, xuyên luyện tử, diên hồ sách, nhục quế, cà, đại hồi hương, bổ cốt chi; có tác dụng ôn hàn chỉ thống. Chủ trị chứng tiểu trường hàn sán (sa ruột).

2. Thập bổ hoàn (Thái Bình Huệ Dân hoà tê cục phương gồm phụ tử, quế nhục, ba kích thiên, bổ cốt chi, bào khương, viễn chí, thỏ ti tử, xích thạch chỉ, hậu phác, xuyên tiêu. Tác dụng ôn thận trợ dương; chủ trị chứng chân nguyên hư tổn, hạ nguyên bất túc, rốn bụng đau, lưng chân đau, đạo hãn vong huyết, chúng huyết trắng nhiều, tiểu nhiều lần, tiêu khát, dương nuy.

3. Thập bổ hoàn (Tạp bệnh nguyên lưu tê thực) gồm phụ tử, phòng phong, hồ lô ba, mộc hương, ba kích thiên, nhục quế, xuyên luyện tử, điện hồ sách, cà, bổ cốt chi, muối, đậu đen. Tác dụng ôn hàn chỉ thống, chủ trị hàn sán quyết lãnh, duong nuy, v.v…

Ngũ tử diện tông hoàn (Minh-Chống trị chuẩn thằng) 

Còn gọi là Ngũ tử bổ thận hoàn, ích thận hoàn

Thành phần và cách dùng:

Thỏ ti tử, câu kỷ tử đều 240g, phúc bồn tử 120g, xa tiền tử 60g, ngũ vị tử 30g. Tất cả tán bột mịn, luyện mật làm hoàn. Mỗi lần uống 6-9g, ngày uống 2-3 lần với nước sôi nguội hoặc nước muối nhạt. Cũng có thể làm thuốc thang sắc uống theo liều thông dụng của thuốc.

Tác dụng và chủ trị:

Ôn dương ích thận, bổ tinh tuỷ. Chủ trị chứng thận hư di tinh, dường nuy, tảo tiết, tiểu tiện không dứt, tinh hàn không con, bế kinh, đới hạ, eo lưng nhúc gối mỏi, râu tóc bạc sớm, tiểu đêm nhiều, lưỡi bệu nhạt rêu mỏng, mạch trầm tế nhuộc.

Ứng dụng lâm sàng:

Thường dùng trị chứng duong nuy, rối loạn tinh dịch, viêm thận mạn, vô sinh, không có thai, không phóng tinh dịch; còn dùng trị chứng bế kinh, đái dầm trẻ em…

1. Dương nuy: Bài này gia can địa hoàng, đỗ trọng, thung dung, tiền linh tỳ trị chứng duong nay đã 10 năm. Kết quả 15 thang tiếp tục gia đuôi lộc uống tiếp 2 tháng, vợ có thai. ( Bảo Tạp Chí Trung Y Hồ Bắc, số tháng 6-1988).

2. Rối loạn tinh dịch: Bài này là chính, tùy chúng gia nữ trinh tử, đương qui, nhau thai, hà thủ ô, hoàng tinh, lộc giác giao, lộc giác sương, nhục thung dung, tang phiêu tiêu, trị vô sinh nam, rối loạn tinh dịch 336 ca. Kết quả khỏi 265 ca, có kết quả 31 ca, không kết quả 41 ca; nữ có thai 237 ca. (Trung Y Tạp chí Liêu Ninh, số tháng 11-1987).

3. Chứng không phóng tinh: Bài này là chính, gia thục địa, son thù, tang thầm tử, trị 30 ca. Kết quả khỏi 25 ca, không kết quả 5 ca. (Bảo Trung Y Dược Cát Lâm, số tháng 2-1983).

4. Chứng khó tiểu tiện, tiểu són: Bài này là chính, trị chúng khó tiểu và tiểu són ở người cao tuổi 14 ca. Kết quả đều tốt. (Bảo Trung Y Tứ Xuyên, số tháng 5-1987).

5. Chúng tiêu đem nhiều: Trị chứng tiểu đêm nhiều ở người cao tuổi 10 ca. Kết quả đều khỏi. (Bảo Trung Y Giang Tây, số tháng 4-1987).

6. Viêm cầu thận mạn: Bài này hợp với bài Ngũ linh tán trị viêm thận mạn có đạm niệu dương tính, phù, đã nhiều lần điều trị không kết quả. Kết quả uống vài thang, kiểm tra nhiều lần hết đạm niệu; bài thuốc gia giảm uống thêm 15 thang khỏi. Bệnh được theo dõi 6 tháng không tái phát. (Tạp chí Trung Y Dược Thượng Hải, số tháng 9-1985).

7. Chứng vô sinh: Bài thuốc gia tiên mao, tiên linh tỳ, đương qui, xuyên khung, nhục quế, tử thạch anh, trị 1 phụ nữ kết hôn 4 năm không có thai. Kết quả uống thuốc sau 1 năm sanh con. (Báo Trung Y Thiếm Tây, số tháng 7-1986).

8. Trẻ em đái dầm: Bài thuốc gia kê nội kim, ích trí nhân, bổ cốt chi trị trẻ em đái dầm 67 ca. Kết quả khỏi 45 ca, có kết quả tốt 16 ca, không kết quả 6 ca. (Bảo Trung Y Dược Quảng Tây, số tháng 3-1985).

* Chú ý lúc dùng:

Bài thuốc chủ yếu dùng trị chứng thận hư, không có thai, vô sinh. Trong bài, thỏ ti tử, câu kỷ tử bổ thận ôn dương, phối hợp với xa tiền từ lợi thuỷ tả nhiệt; trong bố có tả, trong sáp có lợi là đặc điểm của phổi ngũ.

Trên lâm sàng dùng thuốc thang, trường hợp có âm hư gia thục địa hoàng, sơn thù nhục, thiên môn đông; dương hư gia nhục thung dung, lộc nhung, quế nhục, ba kích nhục; âm duong luồng hư gia lộc giác, qui bản, câu kỷ tử, nhân sâm; tiểu nhiều gia tang phiêu tiêu, ích trí nhân; dương nuy, gia tiên mao, tiên linh tỳ, toả dương, cầu thận, đuôi lộc; di tinh gia kim anh tử, khiếm thực, liên tụ.

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại

1. Kết quả trên thực nghiệm chứng minh tăng lực của chuột nhắt trắng, tăng sức thích nghi của chuột trong môi trường thiếu oxy và khí hậu lạnh, làm tăng thể tích tinh hoàn của chuột đực, tuyến tinh nang và tăng trọng của tử cung chuột con cái.

2. Bài thuốc có tác dụng tăng tính miễn dịch, điều tiết nội tiết tố.

3. Bài thuốc có tác dụng kích dục đối với chuột, có tác dụng của nội tiết tố tính dục, tăng hàm lượng CAMP của tổ chức tinh hoàn chuột con.

Địa hoàng ẩm tử (Kim-Tuyên mình luận phương)

Thành phần và cách dùng:

Sinh địa hoàng 90g, ba kích thiên, sơn thù, nhục thung dụng, thạch hộc, phụ tử (bào), phục linh, thạch xương bồ, viễn chỉ, nhục quế, mạch môn đều 30g, ngũ vị tử 15g. Tất cả tản bột mịn. Mỗi lần uống 9g, gia sinh khương, đại táo, bạc hà sắc uống. Có thể làm thuốc sắc uống, các vị thuốc theo liều thông dụng.

Tác dụng và chủ trị:

Bổ thận ích tinh, hoá đàm khai khiếu.Chủ trị chứng câm, cứng lười, nhức chân không đi được, miệng khô không muốn uống. Rêu lưỡi phù nhây, mạch trầm trì tế nhược. OỨng dụng lâm sàng:

Bài thuốc dùng trị chứng tai biến mạch máu não, huyết áp cao, co giật cơmặt, chứng rối loạn tiểu não, chúng Parkinson, chứng xơ cứng động mạch não, di chứng chấn thương não, chúng loạn dưỡng cơ tiến triển, bệnh tuỷ sống, suy nhược thần kinh…

1, Tai biến mạch máu não: Dùng bài thuốc là chính điều trị 30 ca. Trong đó nhũn não 9 ca, xuất huyết dưới màng nhện 11 ca, xuất huyết não 10 ca; thời gian mắc bệnh ngắn nhất là 6 ngày, dài nhất là 12 ngày. Trạng thái tinh thần hôn mê nông 16 ca, mơmàng 7 ca, tỉnh táo 7 ca. Kết quả khỏi 24 ca, chuyển biến tốt 6 ca. (Học Bảo Trung Y Học Viện Thiểm Tây, số thảng 2-1989). Còn dùng thuốc điều trị 1 ca co thắt mạch não và 1 ca tắc nghẽn mạch não. Kết quả sau khi uống 1-2 tháng đều hồi phục, đi lại nói năng bình thường. (Báo Trung Y Tứ Xuyên, số tháng 12-1985).

2. Co giật mi mắt: Bài thuốc họp với bài Tiêm chính tán trị 2 ca co giật mi mắt – liệt cơ hàm dưới. Kết quả sau khi uống 20 thang, các triệu chứng đều giảm; uống thêm 30 thang, bệnh khỏi. (Bảo Trung Y Bắc Kinh, số tháng 3-1988).

3. Cao huyết áp: Bài thuốc gia bán hạ trị huyết áp cao, do xơ cứng động mạch thận, huyết áp cao do thận, suy thận mạn tính. Kết quả sau khi uống 10 thang hoa mắt chóng mặt giảm; uống thêm 30 thang, huyết áp bình thường, tiếp tục uống 6 thang, chức năng thận cơ bản bình thường. (Bảo Trung Y TẾ Xuyên, số tháng 12-1985). Bài thuốc này gia đỗ trọng, trạch tả điều trị chứng huyết áp cao do thân thể âm dương lưỡng hư22 ca đạt kết quả tốt. (Bảo Trung Y Hà Bắc, số tháng 5-1989).

4. Chứng xơ cứng động mạch não: Dùng bài thuốc là chính trị 5 ca. Kết quả đều tốt. (Báo Trung Y Sơn Tây, số tháng 3-1985).

5. Hội chứng rối loạn chức năng tiểu nào: Bài thuốc gia hoàng kỳ, đỗ trọng, qui bản điều trị bệnh. Kết quả sau khi uống 10 thang, giảm hoa mắt chóng mặt, 2 chân khoẻ hơn, tiếp tục uống thuốc thêm 5 tháng, các chúng trên đều hết. (Bảo Trung Y Dược Cát Lâm, số tháng 2-1988).

6. Bệnh Parkinson: Dùng bài thuốc gia đỏm tinh điều trị. Kết quả sau khi uống 19 thang, các triệu chứng giảm nhẹ, tiếp tục uống 20 thang nữa, hết run giật; uống tiếp bài thuốc này thêm 6 tháng, khỏi bệnh. (Bảo Trung Y Tứ Xuyên, số tháng 12-1985).

7, Bệnh tủy sống: Dùng bài thuốc trị chứng rỗng tủy (syringomyelitis), viêm tủy cắt ngang, chúng hở cột sống bẩm sinh mỗi thứ 1 ca. Kết quả sau khi uống 20 thang, lực cơ hội phục, chân hoạt động được, uống thêm 30-50 thang, bệnh nhân có thể tự mình đi lại, sinh hoạt tự lo được. ( Tạp chí Trung Y Liêu Ninh, số tháng 7-1984).

8. Viêm thần kinh ngoại vi do nhiễm độc Phosphor hữu cơ: Bài này chế thành thuốc hoàn uống trị 3 ca. Kết quả sau khi uống 1-2 tuần, da bắt đầu ấm, có cảm giác đau, uống thuốc sau 2 tháng lực cơ hồi phục gần bình thường, phản xạ sinh lý tồn tại, cảm giác hồi phục bình thường. (Học Báo Trung Y Dược, số tháng 5-1985).

9. Di chứng viêm não B: Bài thuốc gia bối mẫu, uất kim, trúc lịch dùng trị 1 ca bệnh viêm não B mắc bệnh 40 ngày để lại di chứng liệt nửa người, câm và điếc. Kết quả sau khi uống được 7 thang nói và nghe được. (Báo Trung Y Dược Giang Tây, số tháng 1-1986).

* Chú ý lúc dùng:

Bài này chủ yếu dùng trị chứng thận hư nội đoạt, không nói được, 2 chân teo yếu. Trong bài, phụ tử, nhục quế, ba kich thiên bổ thận ôn dương, sinh địa, sơn thù, thạch hộc tư âm ích thận, phối hợp với viễn chi, phục linh, xương bỏ hóa đờm khai khiếu, âm dương cùng bổ tâm thần đọc điều hoà là đặc điểm phổi ngủ của bài thuốc. Chỉ định chủ yếu của bài thuốc là: hai chân lạnh yếu, nói không ra tiếng, hình suy thận yếu, tiểu nhiều lần, đái són, rêu lưỡi phù nhây, mạch trầm tế vô lực.

Trên lâm sàng có di chứng trúng phong gia hoàng kỳ, đơn sâm; loạn dưỡng có gia kê huyết đằng, ngưu tất, thiên niên kiện, mộc qua; đại tiện lòng gia bổ cốt chi, hoài sơm; tiếu nhiều lần gia thỏ ti tử, kim anh tử; đêm khó ngủ gia thái tử sâm, tảo nhân.

Những bài thuốc cùng tên

1. Địa hoàng ẩm tử (Ngoại đài bí yếu) gồm dịch sinh địa hoàng, sinh mạch môn đông, nhân sâm, sinh khương, trần bì, lô căn, bạch mật; có tác dụng thanh nhiệt hoà vị; chủ trị chứng hư nhiệt nôn ói không ăn được, ăn vào khó chịu.

2. Địa hoàng ẩm tử (Đan Khê tâm pháp) gồm nhân sâm, hoàng kỳ (chích), cam thảo (chích), sinh địa, thục địa, thiên môn đông, mạch môn đông, tỳ bà diệp (chích), thạch hộc, trạch tả, có tác dụng tư âm thanh nhiệt, chủ trị chứng tiêu khát, phiền táo, họng khô mặt đỏ.

Nội bổ hoàn (Thanh-Nữ khoa thiết yếu)

Thành phần và cách dùng:

Thỏ ti tử 120g, lộc nhung, phụ tử, nhục quế đều 60g, hoàng kỳ, đồng tật lê, tử uyển nhung, tang phiêu tiêu, phục linh, bạch tật lê đều 90g. Các vị thuốc tán bột mịn luyện mật làm hoàn bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 3-6g, ngày uống 2-3 lần trước bữa ăn với rượu ấm. Có thể làm thuốc phiến sắc uống theo liều lượng thường dùng của các vị thuốc.

Tác dụng và chủ trị:

Ôn bổ thận dương. Chủ trị chứng thận dương hư suy, chúng bạch đới trong loãng, tiêu chảy vào lúc sáng sớm, người mát lạnh, sợ lạnh, lưỡi bệu nhợt, rêu trắng mỏng, mạch tế nhuộc. 

Ứng dụng lâm sàng:

Bài thuốc thường dùng trị chứng bạch đới, viêm đại tràng mạn tính, viêm ruột dị ứng.

* Chú ý lúc dùng:

Bài thuốc chủ yếu dùng trị chứng dương hư bạch dâm ở phụ nữ. Trong bài, phụ tử, lộc nhung, thỏ từ từ ôn duong ich thận bồi tình cố sáp, phối hợp với hoàng kỳ, phục linh ích khi kiện tỳ, bạch tật lê bình can sơ can; ích thận là chính, can tỳ cùng điều hoà là đặc điểm phối ngủ của bài thuốc. Lúc dùng thuốc thang, trên lâm sàng nểu tiểu nhiều lần, nước tiểu trong nhiều, gia ich trí nhân, kim anh tử; kinh nguyệt trẻ, lượng it sắc nhợt, gia từ thạch anh, đương qui; đại tiện lỏng kèm theo bụng đau sợ lạnh gia bổ cốt chỉ, nhục đậu khấu; ù tai vàng đầu gia kỷ tử, từ thạch, ngũ vị tử, Trường hợp huyết trắng nhiều, sắc vàng đặc hội, hoặc như bã đậu hũ không nên dùng bài này.

Những bài thuốc cùng tên

1. Nội bỏ hoàn (Phổ tể bổn sự phương) gồm thục địa, đường quy có tác dụng bổ ích xung nham; chủ trị phụ nữ có thai mạch xung nhâm hư.

2. Nội bỏ hoàn (Thái bình thảnh huệ phương) gồm hoàng liên, đương quy, a giao, can khương; có tác dụng thanh nhiệt ôn tỳ, dưỡng ẩm cầm chứng lỵ; chủ trị chứng cửu ly thường âm, bụng đau, đại tiện có máu mủ.

Bổ thận cường thân phiến (Hiện đại-Thường dùng Trung Thành Dược

Thành phần và cách dùng:

Dâm dương hoắc 50g, nữ trinh tử chế, thỏ tị tử, kim anh tử, cẩu tích chế đều 30g. Thỏ ty tử, dâm dương hoắc, kim anh tử sắc lấy nước cô đặc, nữ trinh tử, cẩu tích tán bột mịn rồi trộn cùng thuốc nước làm thành viên. Mỗi lần uống 1 viên, ngày uống 3 lần, nếu là thuốc viên nang, mỗi lần uống 3 nang, ngày uống 3 lần, với nước sôi ấm.

Tác dụng và chủ trị:

Tráng dương cố tinh, cường cân kiện cốt. Chủ trị dương nuy, tảo tiết, tinh hàn không phát triển, hoạt tiết di lậu, tiểu són tiểu không dứt, ù tai điếc tai, hoa mắt mờ mắt, lưng gối nhức mỏi,thần khí suy nhược 

– Ứng dụng lâm sàng:

Có thể điều trị chứng điếc cơ năng, đái dầm, phì đại tuyến tiền liệt tuyến, rối loạn tính dục, tinh dịch không bình thường, vô sinh.

* Chú ý lúc dùng:

Chủ yếu dùng trị chứng thận dương bất túc. Trong bài, dâm dương hoắc ôn thận tráng dương, phối hợp với kim anh tử, thỏ ti tứ ích thận cổ tinh, dược tính bình ổn mà không tảo là đặc điểm phổi ngủ của bài thuốc.

Trên lâm sàng dùng trị chứng di tinh, dương nuy kèm theo lưng đau mỏi, tiểu nhiều lần nước trong, ù tai vàng đầu, chân lạnh tinh thần mệt mỏi, lưỡi bều nhợt, mạch trầm tế vô lực. Không nên dùng đối với chứng dương nuy, di tinh mà tiểu vàng đỏ, lưỡi đỏ miệng khô, mạch trầm tế các thuộc chứng thận âm hư.

Thanh nga hoàn

(Tổng-Thái Bình Huệ Dân hoà tễ cục phương) cũng gọi là Kiện yêu hoàn

Thành phần và cách dùng:

Đỗ trọng 500g, bổ cốt chi 250g, hồ đào nhân 20 hạt, tỏi(nấu cao) 120g. Tất cả thuốc tán bột mịn, trộn nước làm hoàn. Mỗi lần uống 3-6g, ngày 2-3 lần với nước sôi nguội. Có thể làm thuốc sắc, không dùng tỏi, các vị thuốc dùng liều thông dụng. chủ trị:

Tác dụng và chủ trị

Bổ thận tráng yêu. Chủ trị chứng thận hư yêu thống, nằm ngồi không yên, thay đổi tư thế càng khó, lưỡi bêu rêu trắng mỏng, mạch trầm tế.

Ứng dụng lâm sàng:

Thường dùng trị chứng cơ lưng tổn thương do lao động, sau sanh lưng đau, chứng phì đại đốt sống thắt lưng, tính dục giảm sút.

1. Cơ thắt lưng đau do tổn thương lao động: Dùng bài thuốc gia độc hoạt, tang ký sinh, xuyên tục đoạn, đương qui.Trường hợp cơ đau như bị kéo căng gia ngưu tất, mộc qua; gót chân đau gia sơn thù, nhục thung dung.

2. Đau thắt lưng sau sanh: Dùng bài thuốc gia tỏi, đương qui, xuyên khung, thục địa, ba kích thiên trị chứng sau sanh đau lưng trở mình khó khăn. Trường hợp nước ối ra không hết gia đào nhân, hồng hoa táo bón gia hà thủ ô, nhục thung dung, ma nhân; chân tay tê dại gia kê huyết đằng, tang chi.

3. Chứng phì đại đốt sống thắt lưng: Dùng bài thuốc gia uy linh tiên, cốt toái bổ, tân giao. Trường hợp đau như kim châm gia chế nhũ hương, hồng hoa, đơn sâm; sợ lạnh gia nhục quế, đại hồi hương .

4. Chức năng tình dục suy giảm: Bài thuốc gia tỏa dương, thỏ tí tử, phúc bồn tử, dâm dương hoắc trị chứng chức năng tình dục suy giảm sinh chứng đau nhức lưng, dường nuy, tảo tiết. Nếu chân tay lạnh, sợ lạnh gia ba kích thiên, lộc nhung; tiểu đỏ họng khô, bỏ tỏi gia mạch đông, sơn thù, qui bản. 

* Chú ý lúc dùng:

Bài thuốc chủ yếu dùng trị chứng thận hư vùng thắt lưng đau. Trong bài dùng đỗ trọng, bố cốt chi, hồ đào nhục bố thận trợ duong phối hợp với tỏi vị nồng cay ấm tăng thêm tác dụng ôn thận chỉ thống. Chỉ định của bài thuốc là chứng đau lưng lúc nằm và nghỉ ngơi thì giảm kèm theo thích ấm sợ lạnh, tinh thần mệt mỏi, lưỡi bệu nhợt, rêu trắng mỏng, mạch trầm tế.

Lúc dùng làm thuốc thang, trên lâm sàng nếu thấy người và chân tay lạnh, sắc mặt tái nhợt, tiểu nhiều trong, chân yếu là chứng thận dương suy gia phụ tử, nhục quế, lộc nhung, ba kich thiên; trường hợp lưng đau mà họng khô miệng tảo tiểu nhiều mà đó, ù tai hoa mắt thuộc chứng thận âm hư thì bỏ tỏi gia can địa hoàng, kỷ tử, qui bản, hoàng bá, di tinh nhiều bỏ tỏi gia kim anh tự, thủ ti tử, phúc bồn tử, thiên môn đông: tiểu nhiều lần hoặc sau khi tiểu còn son gia ích trí nhân, tang phiêu tiêu, đoạn mẫu lệ, ngũ vị tử.

Gia vị thanh nga hoàn (Phụ nhân đại toàn lương phương) tức bài thuốc này gia tiểu hồi hương, hồ lô ba, liền nhuỵ (tua sen), xuyên sơn giáp, thanh diêm; có tác dụng bổ ích âm dương, kiện yêu chỉ thống; chủ trị các chứng hư, vùng thắt lưng đau gối mỏi, sắc mặt lão suy.

Những bài thuốc cùng tên

1. Thanh nga hoàn (Hòa tê cục phương) gồm hồ đào nhục, bổ cốt chi, đỗ trọng; có tác dụng ôn thận chỉ thống; chủ trị chứng thận hư yêu thống.

2. Thanh nga hoàn ( Đan Khê tâm pháp) gồm bổ cốt chi, đỗ trọng, can khuong, hồ đào nhục; có tác dụng ôn thận tán hàn chỉ thống; chủ trị chứng thận hư yêu thống.

Kim cương hoàn 

Kim-Tố  vấn bệnh cơ khí nghị bảo mệnh tập

Thành phần và cách dùng:

Nhục thung dung, tỳ giải, đỗ trọng (sao), thỏ tí tử đều 800g, xương sống lưng heo 500g.

* Trước tiên bỏ sạch gan và màng xương heo, rửa sạch cho ruộu vàng 200g vào nấu nhừ, các loại thuốc khác tán bột mịn trộn với nuóc xương heo, luyện mật làm hoàn bằng hạt đậu xanh nhỏ. Mỗi lần uống 9g, ngày uống 2 lần trước bữa ăn với nước sôi nguội hoặc rượu. Có thể dùng làm thuốc thang, các vị thuốc theo lượng thường dùng.

Tác dụng và chủ trị:

Bổ thận sinh tinh, Chủ trị chứng thận hư tinh suy, gân cốt teo nhược, lưng gối đau nhức, chân tay mệt mỏi.

Ứng dụng lâm sàng:

Thường dùng trị chứng loạn duõng cơ, liệt cơ nặng, teo cơ tiến triển, viêm đa rễ thần kinh.

1. Chứng teo cơ tiến triển: Bài thuốc gia cẩu tích, mộc qua, ngưu tất, đương qui trị chứng liệt chi cơ teo. Kết quả uống 70 thang, bệnh khỏi. (Tạp chí Trung Y Giang Tô, sổ tháng 10-1989).

2. Viêm nhiều dây thần kinh: Dùng bài thuốc này là chủ yếu trị chứng viêm nhiều dây thần kinh sinh ra chân tay teo yếu, lung gối yếu, không có khả năng đi lại. (Sách Thực Dụng Trung Ý Nội Khoa Học, Nxb Khoa Học Kỹ Thuật Thượng Hải).

* Chú ý lúc dùng:

Bài thuốc chủ yếu dùng trị chứng teo liệt do thận hư tinh suy gây nên. Trong bài, nhục thung dung, đỗ trọng, thó tỉ từ và xương heo là thuốc bổ thận sinh tinh phối hợp với tỳ giải để tuyên thông thấp tỷ tức trong bố có tả, đó là đặc điểm phổi ngủ của bài thuốc. Chỉ định của bài thuốc là chúng lưng gối nhức yếu kèm theo hoa mắt chóng mặt ù tai, tiểu nhiều lần, di tinh, chân tay yếu, lưỡi bệu nhợt rêu trắng, mạch trầm tế. Không nên dùng bài thuốc này đối với chúng nuy liệt có kèm sốt, bứt rứt, miệng khát, tiểu vàng đó, táo bỏn, lưỡi đó rêu vàng.

Nhị tiên thang

(Hiện đại-Sổ tay lâm sàng bài thuốc Trung Y, Nxb Khoa học Kỹ thuật Thượng Hải)

Thành phần và cách dùng:

Tiên mao 6-15g, tiền linh tỳ 9-15g, ba kích thiên 9g, tri mẫu 6-9g, hoàng bá 6-9g, đương qui 9g. Sắc nước uống. Ô Tác dụng và chủ trị:

Bổ thận tả hoả, điều lý xung nhâm. Chủ trị chứng trước và sau khi mất kinh, hoa mắt chóng mặt, ngực tức bứt rứt, ngủ ít nhiều mộng, sốt ra mồ hôi, uất ức lo lắng, lưng gối đau mỏi. OỨng dụng lâm sàng:

Thường dùng trị hội chứng tiền mãn kinh, chúng trầm uất, di chúng trúng phong, chứng suy tuỷ, tinh dịch không binh thường, luput ban đỏ, viêm thận mạn, tiểu nhạt, chứng vô sinh, sẩy thai, rụng tóc, v.v…

1. Hội chứng tiền mãn kinh: Bài thuốc gia tố tử, đơn sâm, trầm hương, bạch vi, dùng trị 21 ca đều đạt kết quả tốt. (Tạp chí Trung Y Sơn Đông, số tháng 4-1989). Một báo cáo dùng bài thuốc trị hội chứng canh niên kỳ nam giới 14 ca có kèm huyết áp cao, tính dục giảm sút, đau đầu sốt chiều. Kết quả sau khi uống thuốc từ 10 đến 30 thang, tất cả bệnh nhân đều khỏi. (Tạp chí Trung Y Liêu Ninh, số tháng 4-1986).

2. Chứng trầm uất: Dùng bài thuốc gia thạch xương bồ, dạ giao đằng trị 64 ca. Trường hợp ít nói lời hoạt động, đần độn dùng xương bồ, gia uất kim, bứt rứt khó ngủ dùng dạ giao đẳng, gia sao tác nhân; ăn kèm sợ lạnh, bỏ hoàng bá gia can khương, uất ức nặng khó vào ngũ gia hợp hoan bì, phục thần. Kết quả khỏi 22 ca, tốt 38 ca, không khỏi 4 ca. ( Bảo Trung Y Thiểm Tây, sổ thảng 2-1988).

3. Di chúng trúng phong: Dùng bài này gia xuyên khung, ngưu tất, trị 48 ca thời gian mắc bệnh từ 5 tháng đến 4 năm. Trường hợp khí hư gia hoàng kỳ, bào sâm; tiểu tiện nhiều lần gia ích trí nhân, chân tay đau gia kê huyết đằng, xích thước; chân tay phụ gia mễ nhân, phòng kỷ chân tay co rút gia qui bản, miết giáp, bạch thược, nói khó gia thiên trúc hoàng, thạch xuong bộ; cao huyết áp gia hạ khô thảo, câu đằng, thạch quyết minh, lưỡi rêu vàng nhầy gia trúc nhự. Uống thuốc trong 2 tháng. Kết quả cơ bản khỏi 21 ca, tiến bộ 19 ca, không kết quả 8 ca. (Bảo Trung Y Tứ Xuyên, số tháng 2-1984).

4. Chứng tinh dịch không bình thường: Bài này hợp với bài Diễn tông hoàn, trị 49 ca tinh dịch không bình thường gây vô sinh nam. Trường hợp thận dương hư bỏ tri mẫu hoàng bá, gia phụ tử, thung dung, lộc giác phiến; thận âm hư gia thục địa hoàng, nữ trinh tử, thù nhục; thấp nhiệt hạ chú gia tỳ giải, thạch xương bồ, mộc thông; khí trệ huyết ứ gia lộ lộ thông, ngưu tất, đon sâm; huyết hư gia thủ ô, bạch thuộc; khí hư gia hoàng kỳ, đảng sâm; tinh hoàn đau gia xuyên luyện tử, hổi hương, ô dược, lệ chi hạch; dùng thuốc 20 ngày là 1 liệu trình. Kết quả khỏi 27 ca, kết quả rõ 11 ca, có kết quả 7 ca, không kết quả 4 ca. (Tạp chí Trung Y Dược Thượng Hải, số tháng 3-1990).

5. Chúng suy tủy: Bài này bỏ tri mẫu, hoàng bá, gia hoàng kỳ, nhân sâm, xích tiểu đậu, cam thảo, ngũ vị tử dùng trị chứng suy tuỳ thuộc thể tỳ thận dương hư 62 ca. Có kết quả 57 ca, không kết quả 5 ca. (Tạp chí Trung Tây Y Kết Hợp, số tháng 5-1990).

Chú ý lúc dùng:

Bài này chủ yếu dùng trị chứng thận dương hư suy, lại cùng dùng cho chúng hư hoả nhiễu loạn 2 mạch xung nhâm. Trong bài, tiến mao, tiến linh tỳ, ba kích thiên ôn bổ thận dương, tri mẫu hoàng bả tư thận tả hoả, đương qui dưỡng huyết điều hoà xung nhâm. Trên lâm sàng dùng trị chứng húc sợ lạnh, lúc nóng ra mồ hôi, váng đầu ù tai lưng đau mỏi, lưỡi bêu rêu mỏng mạch tế.

Trên lâm sàng có chứng tạng tảo, bi thương chảy nước mắt, có thể kết hợp với bài cam mạch đại táo thang; trường hợp bằng lậu gia a giao, hạn liên thảo, tiên hạc thảo; hồng sườn trường đau bứt rứt gia sài hồ, chỉ xác, bạch thược, đái nhạt gia nhục quế, mẫu lệ, ích trí nhân, hoài sơn; dương nay gia dương khởi thạch, thục địa.

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm chứng minh tiến linh tỳ có tác dụng kích thích chó đực xuất tinh, tăng sức giao phối của động vật. Chích cho chuột nhắt trắng dung dịch tinh chế của tiên linh tỳ, dùng phương pháp đo tuyến tiền liệt, tinh nang phát hiện thuốc có tác dụng của nội tiết tố đục. Ngoài ra trên thực nghiệm bài thuốc có tác dụng hạ huyết áp rõ rệt.

Chia sẻ bài viết lên:

Viết một bình luận